English | FAQ | Sơ đồ website
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
Số 54 Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI 
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 9 và 9 tháng năm 2020
 
 

 Kinh tế - xã hội nước ta 9 tháng năm 2020 diễn ra trong bối cảnh dịch viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona (Covid-19) bùng phát mạnh trên phạm vi toàn cầu đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến mọi mặt kinh tế - xã hội của các quốc gia trên thế giới. Các nền kinh tế lớn đối mặt với tình trạng suy thoái sâu, tồi tệ nhất trong nhiều thập kỷ qua. Tuy nhiên, đến thời điểm giữa tháng 9, khi các nền kinh tế tái khởi động sau phong tỏa do dịch Covid-19, dự báo về tăng trưởng kinh tế thế giới có những dấu hiệu khả quan hơn[1]. Thương mại toàn cầu, giá cả hàng hóa đang dần được phục hồi, thị trường chứng khoán toàn cầu đã cho thấy mức tăng cao nhờ sự nới lỏng của các ngân hàng trung ương và dần mở cửa trở lại của một số nền kinh tế. Dòng vốn vào các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển tiếp tục nới lỏng, lạm phát duy trì ở mức thấp[2]. Những nền kinh tế lớn như Mỹ, Nhật Bản, Cộng đồng chung châu Âu tuy vẫn đối mặt với nhiều khó khăn nhưng dự báo sẽ có tăng trưởng khả quan hơn trong những tháng cuối năm 2020 và năm 2021. Riêng nền kinh tế Trung Quốc từ mức tăng trưởng âm trong quý I đã phục hồi lên mức tăng trưởng dương trong quý II và quý III năm 2020[3]. Trong nước, bên cạnh những thuận lợi từ kết quả tăng trưởng tích cực năm 2019, kinh tế vĩ mô ổn định nhưng phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức. Dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, khó lường làm tăng trưởng ở hầu hết các ngành, lĩnh vực chậm lại. Tình hình đứt gãy thương mại quốc tế gây ra những hệ lụy tới hoạt động sản xuất và xuất, nhập khẩu của Việt Nam. Tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm ở mức cao. Bên cạnh đó, hạn hán, xâm nhập mặn diễn ra sớm ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng cây trồng.

Trước tình hình đó, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã kịp thời chỉ đạo quyết liệt các bộ, ngành, địa phương thực hiện đồng bộ, hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp tại các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, đặc biệt là Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 01/01/2020 về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và Dự toán ngân sách nhà nước năm 2020; Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 01/01/2020 về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2020. Trước đại dịch Covid-19, với phương châm vừa phòng chống dịch bệnh, bảo đảm sức khỏe người dân, vừa phòng chống suy giảm kinh tế và giữ vững ổn định xã hội, nỗ lực phấn đấu cao nhất thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2020, ngày 04/3/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 11/CT-TTg về các nhiệm vụ, giải pháp cấp bách tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, bảo đảm an sinh xã hội ứng phó với dịch Covid-19. Ngày 09/4/2020, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 42/NQ-CP về các biện pháp hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid-19, đồng thời thường xuyên theo dõi, đôn đốc, kiểm tra tình hình thực hiện trong từng tháng, từng quý. Để đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành các văn bản số 622/TTg-KTTH và số 623/TTg-KTTH ngày 26/5/2020 về việc tập trung chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công năm 2020 cùng với sự chỉ đạo, kiểm tra, giám sát, tháo gỡ khó khăn trực tiếp tại các địa phương của Lãnh đạo và các thành viên Chính phủ. Kết quả đạt được của các ngành, lĩnh vực trong quý III và 9 tháng năm 2020 như sau:

I. TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

1. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý III/2020 ước tính tăng 2,62% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng thấp nhất của quý III các năm trong giai đoạn 2011-2020[4]. Dịch Covid-19 được kiểm soát chặt chẽ, nền kinh tế từng bước hoạt động trở lại trong điều kiện bình thường mới nên GDP quý III/2020 tăng trưởng khởi sắc so với quý II/2020, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,93%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 2,95%; khu vực dịch vụ tăng 2,75%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 0,70%. Về sử dụng GDP quý III năm nay, tiêu dùng cuối cùng tăng 1,19% so với cùng kỳ năm trước; tích lũy tài sản tăng 5,79%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 2,86%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 1,88%.

GDP 9 tháng năm 2020 tăng 2,12% (Quý I tăng 3,68%; quý II tăng 0,39%; quý III tăng 2,62%), là mức tăng thấp nhất của 9 tháng các năm trong giai đoạn 2011-2020[5]. Trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, ảnh hưởng tiêu cực tới mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội, nền kinh tế nước ta tiếp tục duy trì tăng trưởng dương cho thấy tính đúng đắn trong chỉ đạo, điều hành khôi phục kinh tế, phòng chống dịch bệnh và sự quyết tâm, đồng lòng của toàn bộ hệ thống chính trị, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; sự nỗ lực, cố gắng của người dân và cộng đồng doanh nghiệp để thực hiện có hiệu quả mục tiêu “vừa phòng chống dịch bệnh, vừa phát triển kinh tế - xã hội”. Trong mức tăng chung của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,84%, đóng góp 13,62% vào mức tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 3,08%, đóng góp 58,35%; khu vực dịch vụ tăng 1,37%, đóng góp 28,03%.

Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản 9 tháng năm 2020 tăng thấp so với cùng kỳ năm trước do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, dịch Covid-19 và dịch tả lợn châu Phi. Trong đó, ngành nông nghiệp tăng 1,65%, chỉ cao hơn mức tăng 0,02% và 0,91% của 9 tháng năm 2016 và năm 2019 trong giai đoạn 2011-2020[6], đóng góp 0,19 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành lâm nghiệp tăng 2,02% nhưng chiếm tỷ trọng thấp nên chỉ đóng góp 0,01 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 2,44%, cao hơn mức tăng 2,11% và 1,81% của 9 tháng năm 2015 và năm 2016 trong giai đoạn 2011-2020[7], đóng góp 0,08 điểm phần trăm.

Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp 9 tháng năm 2020 tăng 2,69% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn nhiều so với mức tăng cùng kỳ các năm 2011-2020[8], đóng góp 0,91 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,6%, thấp hơn mức tăng của cùng kỳ các năm trong giai đoạn 2011-2020[9], đóng góp 1,02 điểm phần trăm. Ngành khai khoáng giảm 5,35%, làm giảm 0,32 điểm phần trăm mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế do sản lượng dầu thô khai thác giảm 14,1% và khí đốt tự nhiên giảm 9,1%. Ngành xây dựng tăng 5,02%, cao hơn mức giảm 0,01% và tăng 2,78% của 9 tháng năm 2011 và năm 2012 trong giai đoạn 2011-2020[10], đóng góp 0,33 điểm phần trăm.

Trong những tháng đầu năm 2020, dịch Covid-19 ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động thương mại, dịch vụ và xuất nhập khẩu. Khu vực dịch vụ trong 9 tháng đạt mức tăng thấp nhất của cùng kỳ các năm 2011-2020[11]. Trong khu vực dịch vụ, đóng góp của một số ngành dịch vụ thị trường có tỷ trọng lớn vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của 9 tháng như sau: Bán buôn và bán lẻ tăng 4,98% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 0,54 điểm phần trăm; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 6,68%, đóng góp 0,4 điểm phần trăm; ngành vận tải, kho bãi giảm 4%, làm giảm 0,14 điểm phần trăm; ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống giảm 17,03%, làm giảm 0,76 điểm phần trăm.

Về cơ cấu nền kinh tế 9 tháng năm 2020, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 14,05%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 33,16%; khu vực dịch vụ chiếm 42,73%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 10,06% (Cơ cấu tương ứng của cùng kỳ năm 2019 là: 13,21%; 33,97%; 42,75%; 10,07%).

Về sử dụng GDP 9 tháng năm 2020, tiêu dùng cuối cùng tăng 0,86% so với cùng kỳ năm 2019; tích lũy tài sản tăng 3,39%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 0,9%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ giảm 1,25%.

Tổng sản phẩm trong nước theo giá hiện hành

Tổng sản phẩm trong nước theo giá so sánh 2010

Sản xuất nông nghiệp đến ngày 15 tháng 9 năm 2020

   2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản 9 tháng năm 2020 gặp nhiều khó khăn do tác động của hạn hán, xâm nhập mặn; dịch tả lợn châu Phi; dịch Covid-19 trên thế giới diễn biến phức tạp gây ảnh hưởng đến sản xuất và hoạt động xuất, nhập khẩu nông sản. Trước những khó khăn đó, ngành Nông nghiệp đã có nhiều giải pháp ứng phó kịp thời, hiệu quả nên kết quả sản xuất đạt khá, lúa đông xuân và hè thu được mùa, được giá; sản lượng các loại cây lâu năm có mức tăng trưởng khá; chăn nuôi gia cầm phát triển tốt; đàn lợn đang dần khôi phục; xuất khẩu tôm bước đầu khởi sắc. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đã thể hiện vai trò bệ đỡ của nền kinh tế trong lúc khó khăn, bảo đảm nguồn cung lương thực, thực phẩm, hàng hóa thiết yếu, là cơ sở quan trọng để thực hiện an sinh, an dân trong đại dịch.

Sản phẩm chăn nuôi

Kết quả sản xuất lâm nghiệp

Sản lượng thủy sản

 
   a) Nông nghiệp

Nhờ chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng tích cực, gieo trồng giống lúa mới cho giá trị kinh tế cao dần thay thế giống lúa truyền thống nên năng suất lúa đông xuân của cả nước năm nay đạt 66,4 tạ/ha, tăng 0,9 tạ/ha so với vụ đông xuân năm 2019. Sản lượng lúa đông xuân cả nước đạt 19,9 triệu tấn, giảm 593,5 nghìn tấn so với vụ đông xuân năm trước do diện tích gieo trồng năm nay đạt 3.024,1 nghìn ha, giảm 3,2%, trong đó có 30,6 nghìn ha lúa bị thiệt hại bởi hạn hán và nhiễm mặn nên diện tích thu hoạch lúa đông xuân chỉ đạt 2.993,5 nghìn ha, giảm 130,6 nghìn ha so với năm trước.

Tính đến trung tuần tháng Chín, diện tích gieo cấy lúa mùa cả nước đạt 1.512,6 nghìn ha, bằng 97,1% cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc đạt 1.050,8 nghìn ha, bằng 98,1%, các địa phương phía Nam đạt 461,8 nghìn ha, bằng 95%. Diện tích gieo cấy lúa mùa miền Bắc năm nay đạt thấp chủ yếu do các địa phương chuyển một phần diện tích trồng lúa sang sử dụng cho mục đích khác, trong đó vùng Đồng bằng sông Hồng đạt 484,5 nghìn ha, giảm 12,8 nghìn ha so với vụ mùa năm trước; Trung du và miền núi phía Bắc đạt 418,9 nghìn ha, giảm 2,7 nghìn ha; Bắc Trung Bộ đạt 147,4 nghìn ha, giảm 4,6 nghìn ha. Một số địa phương có diện tích lúa mùa giảm nhiều: Thanh Hóa giảm 4,7 nghìn ha; Hải Phòng giảm 2,7 nghìn ha; Hà Nội giảm 2,4 nghìn ha. Đến nay trà lúa mùa sớm ở miền Bắc đang trong giai đoạn chắc hạt và chín, đã thu hoạch được 58,8 nghìn ha, bằng 60% cùng kỳ năm 2019; năng suất ước tính đạt 51,3 tạ/ha, tăng 0,3 tạ/ha.

Vụ lúa hè thu năm nay cả nước gieo cấy được 1.944,8 nghìn ha, giảm 64,8 nghìn ha so với vụ hè thu năm trước, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 1.523,9 nghìn ha, giảm 45,2 nghìn ha. Tính đến ngày 15/9/2020, các địa phương đã thu hoạch được 1.618,7 nghìn ha lúa hè thu, chiếm 83,2% diện tích gieo cấy và bằng 91,7% cùng kỳ năm trước, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long thu hoạch 1.272,1 nghìn ha, chiếm 83,5% và bằng 90,3%. Theo báo cáo của các địa phương, năng suất lúa hè thu cả nước năm nay ước tính đạt 55,7 tạ/ha, tăng 0,9 tạ/ha so với vụ hè thu năm 2019 nhưng do diện tích gieo cấy giảm nên sản lượng chung toàn vụ hè thu 2020 ước tính đạt 10,83 triệu tấn, giảm 119,3 nghìn tấn, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 8,57 triệu tấn, giảm 110,7 nghìn tấn. Một số địa phương có diện tích gieo cấy lúa hè thu giảm nhiều so với năm trước: Tiền Giang giảm 16,7 nghìn ha; Kiên Giang giảm 6,9 nghìn ha; Đồng Tháp giảm 6,8 nghìn ha.

Đến giữa tháng Chín, vùng Đồng bằng sông Cửu Long gieo cấy được 590,1 nghìn ha lúa thu đông, bằng 95,1% cùng kỳ năm trước do ảnh hưởng từ tiến độ sản xuất vụ hè thu muộn; nhiều diện tích không đủ thời vụ sản xuất nên người dân tạm cho đất nghỉ ngơi, mở ruộng đón phù sa chuẩn bị cho vụ đông xuân sắp tới. Bên cạnh đó, do lo ngại về hạn mặn, hàm lượng phèn trong đất cao, không đảm bảo cho sản xuất nên một số địa phương (Bến Tre, Tiền Giang, Trà Vinh) đã chỉ đạo cắt bớt diện tích lúa thu đông. Hiện nay, lúa thu đông tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long đang ở giai đoạn trổ đều và bắt đầu cho thu hoạch.

Tính đến giữa tháng Chín, cả nước gieo trồng được 909,4 nghìn ha ngô, bằng 97% cùng kỳ năm trước; 101,6 nghìn ha khoai lang, bằng 92,2%; 163,4 nghìn ha lạc, bằng 95,2%; 41 nghìn ha đậu tương, bằng 90,1%; 992,4 nghìn ha rau, đậu, bằng 100,4%.

Tổng diện tích cây lâu năm 9 tháng ước tính đạt 3.580,4 nghìn ha, tăng 1,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó nhóm cây công nghiệp đạt 2.193,3 nghìn ha, tăng 0,1%; nhóm cây ăn quả đạt 1.097,6 nghìn ha, tăng 4,2%; nhóm cây lấy quả chứa dầu đạt 179,2 nghìn ha, tăng 0,9%; nhóm cây gia vị, dược liệu đạt 49,3 nghìn ha, tăng 1,2%. Sản lượng một số cây công nghiệp lâu năm tăng so với cùng kỳ năm trước: Sản lượng điều ước tính đạt 333,8 nghìn tấn, tăng 17,8%; cao su đạt 840,8 nghìn tấn, tăng 5,7%; hồ tiêu đạt 268,3 nghìn tấn, tăng 1,8%; dừa đạt 1.355,2 nghìn tấn, tăng 1,6%; chè búp đạt 859,1 nghìn tấn, tăng 3,6%. Sản lượng thu hoạch một số cây ăn quả chủ yếu 9 tháng năm nay hầu hết đều tăng so với cùng kỳ năm trước: Xoài đạt 798,5 nghìn tấn, tăng 5,5%; thanh long đạt 799,2 nghìn tấn, tăng 8,4%; cam đạt 526,5 nghìn tấn, tăng 4,4%; bưởi đạt 523,1 nghìn tấn, tăng 7%; chôm chôm đạt 309,6 nghìn tấn, tăng 0,5%; chuối đạt 1.859,9 nghìn tấn, tăng 5,6%; nhãn đạt 501,9 nghìn tấn, tăng 12,4%; vải đạt 309,7 nghìn tấn, tăng 15%.

Chăn nuôi trâu, bò trong 9 tháng năm 2020 nhìn chung ổn định. Đàn trâu cả nước tiếp tục xu hướng giảm do hiệu quả kinh tế không cao. Đàn bò phát triển khá do được hỗ trợ vốn, kỹ thuật chăn nuôi và có thị trường tiêu thụ tốt, người chăn nuôi có lãi. Ước tính trong tháng Chín, tổng số trâu của cả nước giảm 2,2% so với cùng thời điểm năm 2019; tổng số bò tăng 2,5%. Ước tính 9 tháng, sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng đạt 69 nghìn tấn, tăng 1,8% so với cùng kỳ năm 2019 (quý III đạt 20 nghìn tấn, tăng 3,5%); sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng đạt 272,6 nghìn tấn, tăng 5,7% (quý III đạt 85,1 nghìn tấn, tăng 9,6%); sản lượng sữa bò tươi đạt 799,2 nghìn tấn, tăng 9,9% (quý III đạt 277,1 nghìn tấn, tăng 13,6%).

Dịch tả lợn châu Phi cơ bản được kiểm soát, đàn lợn đang dần khôi phục nhưng việc tái đàn vẫn còn chậm, giá lợn giống liên tục ở mức cao kể từ đầu năm (khoảng 2,5-3,0 triệu đồng/con) nên việc tái đàn chủ yếu tập trung ở các cơ sở chăn nuôi lớn. Ước tính tổng số lợn của cả nước tháng 9/2020 tăng khoảng 3,6% so với cùng thời điểm năm 2019; sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng 9 tháng ước tính đạt 2.483,1 nghìn tấn, giảm 3,2% so với cùng kỳ năm 2019 (quý III đạt 846,2 nghìn tấn, tăng 9,7%).

Tổng đàn và sản lượng gia cầm tiếp tục tăng do khu vực hộ mở rộng quy mô chăn nuôi và khu vực doanh nghiệp phát triển tốt. Tuy nhiên, người chăn nuôi cần theo dõi sát diễn biến thị trường, các cơ quan chức năng cung cấp thông tin kịp thời, kiểm soát tình hình chăn nuôi tại địa phương, không nên tăng đàn ồ ạt dẫn tới tình trạng dư thừa nguồn cung, giá bán giảm sâu gây thua lỗ. Ước tính tổng số gia cầm của cả nước tháng 9/2020 tăng 5,7% so với cùng thời điểm năm 2019; sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng 9 tháng ước tính đạt 1.056,7 nghìn tấn, tăng 11,4% so với cùng kỳ năm 2019 (quý III đạt 348,6 nghìn tấn, tăng 7,7%); sản lượng trứng gia cầm 9 tháng ước tính đạt 10,7 tỷ quả, tăng 10,8% (quý III đạt 3,5 tỷ quả, tăng 9,6%).

Tính đến ngày 23/9/2020, cả nước không còn dịch tai xanh. Một số loại dịch bệnh chưa qua 21 ngày còn ở các địa phương: Dịch cúm gia cầm ở Hải Phòng, Nghệ An, Quảng Ngãi, Vĩnh Long, Cà Mau; dịch lở mồm long móng ở Cao Bằng, Quảng Trị, Kon Tum, Đắk Lắk, Đồng Nai và dịch tả lợn châu Phi còn ở 251 xã thuộc 92 huyện của 27 địa phương[12].

b) Lâm nghiệp

Sản xuất lâm nghiệp 9 tháng năm 2020 chịu ảnh hưởng của dịch Covid-19, các doanh nghiệp chế biến gỗ gặp khó khăn do nhiều đơn hàng xuất khẩu gỗ bị hủy hoặc chậm thanh toán nên giảm thu mua gỗ nguyên liệu, sản lượng gỗ khai thác so với cùng kỳ năm trước có mức tăng chậm. Trong quý III/2020, diện tích rừng trồng tập trung của cả nước ước tính đạt 63,2 nghìn ha, giảm 6,9% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 22 triệu cây, tăng 0,5%; sản lượng gỗ khai thác đạt 4.529 nghìn m3, tăng 1,5%; sản lượng củi khai thác đạt 4,6 triệu ste, tăng 0,9%. Tính chung 9 tháng, diện tích rừng trồng tập trung ước tính đạt 169,5 nghìn ha, giảm 2,6% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 66,5 triệu cây, giảm 1,3%; sản lượng gỗ khai thác đạt 12.050 nghìn m3, tăng 1,8%. Sản lượng củi khai thác đạt 14,4 triệu ste, giảm 0,3% so với cùng kỳ năm 2019.

Diện tích rừng bị thiệt hại quý III/2020 là 356 ha, giảm 84,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 237,7 ha, giảm 89,2%; diện tích rừng bị chặt, phá là 118,3 ha, giảm 12%. Tính chung 9 tháng năm nay, diện tích bị thiệt hại là 1.291 ha, giảm 60,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 603,7 ha, giảm 78,2%; diện tích rừng bị chặt, phá là 687,3 ha, tăng 45,1%.

c) Thủy sản

Sản lượng thủy sản quý III/2020 ước tính đạt 2.261,6 nghìn tấn, tăng 1,4% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm cá đạt 1.531,5 nghìn tấn, tăng 0,3%; tôm đạt 346,6 nghìn tấn, tăng 6,3%; thủy sản khác đạt 383,5 nghìn tấn, tăng 1,8%. Sản lượng thủy sản nuôi trồng quý III ước tính đạt 1.242,9 nghìn tấn, tăng 0,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 815,4 nghìn tấn, giảm 1,2%; tôm đạt 293,6 nghìn tấn, tăng 6,1%. Sản lượng thủy sản khai thác quý III ước tính đạt 1.018,7 nghìn tấn, tăng 2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 716,1 nghìn tấn, tăng 2,1%; tôm đạt 53 nghìn tấn, tăng 6,9%.

Tính chung 9 tháng năm nay, tổng sản lượng thủy sản ước tính đạt 6.131,6 nghìn tấn, tăng 1,6% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm cá đạt 4.424 nghìn tấn, tăng 0,9%; tôm đạt 769,4 nghìn tấn, tăng 5%; thủy sản khác đạt 938,2 nghìn tấn, tăng 2,6%.

Sản lượng thủy sản nuôi trồng 9 tháng ước tính đạt 3.218 nghìn tấn, tăng 1,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 2.229,2 nghìn tấn, giảm 0,4%; tôm đạt 640,9 nghìn tấn, tăng 5,8%. Sản xuất cá tra gặp khó khăn về thị trường xuất khẩu, giá cá tra nguyên liệu giảm và ở mức thấp liên tiếp trong 9 tháng, giá dao động từ 17.500 đến 18.500 đ/kg, người nuôi cá tra lỗ khoảng 4.000 đ/kg. Sản lượng cá tra 9 tháng ước tính đạt 1.027,2 nghìn tấn, giảm 6,1% so với cùng kỳ năm trước. Nuôi tôm nước lợ cũng gặp khó khăn do diễn biến thời tiết phức tạp, hạn hán, xâm nhập mặn xuất hiện sớm và sâu, độ mặn và nhiệt độ biến động làm giảm sức đề kháng của tôm, tổng diện tích nuôi tôm nước lợ bị thiệt hại trong 8 tháng đầu năm là 36,6 nghìn ha, gấp 2,1 lần cùng kỳ năm 2019. Tuy nhiên, thị trường xuất khẩu tôm đang dần được khôi phục từ quý III, người nuôi bắt đầu thả nuôi vụ mới. Sản lượng tôm sú 9 tháng ước tính đạt 204,7 nghìn tấn, tăng 0,6% so với cùng kỳ năm trước (quý III đạt 86 nghìn tấn, tương đương cùng kỳ năm trước); sản lượng tôm thẻ chân trắng 9 tháng ước tính đạt 398,2 nghìn tấn, tăng 7,8% (quý III đạt 197,7 nghìn tấn, tăng 9%).

Sản lượng thủy sản khai thác 9 tháng ước tính đạt 2.913,6 nghìn tấn, tăng 1,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 2.194,8 nghìn tấn, tăng 2,2%; tôm đạt 128,5 nghìn tấn, tăng 1,3%. Khai thác thủy sản biển đang giảm dần hoạt động khai thác ven bờ, kém hiệu quả nhằm bảo vệ và tái tạo nguồn lợi thủy sản biển, hướng tới khai thác biển bền vững và góp phần tháo gỡ thẻ vàng đối với hải sản Việt Nam. Sản lượng thủy sản khai thác biển 9 tháng đạt 2.775,2 nghìn tấn, tăng 2%, trong đó cá đạt 2.101,6 nghìn tấn, tăng 2,3%; tôm đạt 119,7 nghìn tấn, tăng 2,5%.

3. Sản xuất công nghiệp

Do ảnh hưởng tiêu cực của dịch Covid-19 nên tốc độ tăng giá trị tăng thêm ngành công nghiệp quý III/2020 chỉ đạt 2,34% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng, giá trị tăng thêm ngành công nghiệp tăng 2,69%, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,6% và là mức tăng thấp nhất của 9 tháng các năm 2011-2020. Tuy nhiên do dịch bệnh được kiểm soát tốt, các lĩnh vực của nền kinh tế đang bước vào trạng thái hoạt động trong điều kiện bình thường mới, sản xuất công nghiệp tháng 9/2020 đã có sự khởi sắc, mở ra hy vọng sẽ sớm phục hồi và tăng trưởng trở lại trong những tháng cuối năm.

Giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp 9 tháng năm 2020 ước tính tăng 2,69% so với cùng kỳ năm trước (quý I tăng 5,1%; quý II tăng 1,1%; quý III tăng 2,34%). Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,6% (quý I tăng 7,12%; quý II tăng 3,38%; quý III tăng 3,86%), đóng góp 1,02 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung của toàn nền kinh tế; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 3,7%, đóng góp 0,18 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 4,4%, đóng góp 0,03 điểm phần trăm; ngành khai khoáng giảm 5,35% (do sản lượng khai thác dầu thô giảm mạnh 14,1% và khí đốt tự nhiên giảm 9,1%) làm giảm 0,32 điểm phần trăm trong mức tăng chung.

Xét theo công dụng sản phẩm công nghiệp, chỉ số sản xuất sản phẩm trung gian (phục vụ cho quá trình sản xuất tiếp theo) 9 tháng tăng 1,6% so với cùng kỳ năm trước; sản phẩm phục vụ cho sử dụng cuối cùng tăng 3% (trong đó sản phẩm phục vụ cho tiêu dùng của dân cư tăng 3,7%).

Dịch Covid-19 diễn biến phức tạp tại nhiều quốc gia trên thế giới đã làm ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng nguyên liệu nhập khẩu phục vụ cho sản xuất công nghiệp trong 9 tháng năm 2020, đặc biệt đối với ngành chế biến, chế tạo. Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành có chỉ số sản xuất 9 tháng giảm hoặc tăng thấp so với cùng kỳ năm trước: Hoạt động dịch vụ hỗ trợ khai thác mỏ và quặng giảm 32,7%; sản xuất xe có động cơ giảm 12,2%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 11,4%; sản xuất mô tô, xe máy giảm 8,9%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc, thiết bị giảm 7,4%; sản xuất đồ uống giảm 6,6%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 5,8%; sản xuất trang phục giảm 4,4%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 3,8%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu giảm 2%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 1,9%; sản xuất kim loại giảm 1,1%; sản xuất thiết bị điện tăng 0,4%; dệt tăng 0,6%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 1,4%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải, tái chế phế liệu tăng 2,4%. Bên cạnh đó, một số ngành có chỉ số sản xuất 9 tháng tăng cao so với cùng kỳ năm trước và đóng góp lớn vào mức tăng chung của toàn ngành: Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 34,4%; khai thác quặng kim loại tăng 14,8%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 8,6%; sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 8,2%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 8,1%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 7,9%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 6,7%; khai thác than cứng và than non tăng 4,9%; khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 4,7%.

Một số sản phẩm công nghiệp chủ lực 9 tháng năm 2020 giảm hoặc tăng thấp so với cùng kỳ năm trước: Đường kính giảm 22,7%; khí hóa lỏng LPG giảm 16,7%; bia giảm 14,6%; dầu thô khai thác giảm 14,1%; ô tô giảm 11,8%; khí đốt thiên nhiên dạng khí giảm 9,1%; vải dệt từ sợi nhân tạo giảm 8,5%; xe máy giảm 6,5%; quần áo mặc thường giảm 6,2%; sắt, thép thô giảm 6,1%; thức ăn cho gia súc giảm 2,3%; điện thoại di động và thép cán cùng giảm 2,1%; giày, dép da tăng 0,2%; sữa tươi tăng 0,6%; thức ăn cho thủy sản tăng 0,9%; alumin tăng 1,3%; vải dệt từ sợi tự nhiên và điện sản xuất cùng tăng 2,9%. Bên cạnh đó, một số sản phẩm tăng khá: Ti vi tăng 18,3%; phân u rê tăng 10,8%; thép thanh, thép góc và bột ngọt cùng tăng 9,5%; thuốc lá điếu tăng 8,2%; sữa bột tăng 6,8%; thủy hải sản chế biến tăng 5,3%; than sạch tăng 4,9%; nước máy thương phẩm tăng 4,8%; xăng dầu các loại và sơn hóa học cùng tăng 4,7%.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 9/2020 tăng 1,2% so với tháng trước và tăng 4,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 2,6% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2019 tăng 9,5%), trong đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao: Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 71,5%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 13,2%; sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 6,5%; sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 6,3%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 5,8%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 2,8%; sản xuất kim loại tăng 2,5%; in, sao chép bản ghi các loại và sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác cùng tăng 1,7%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 1,4%; sản xuất thiết bị điện giảm 0,4%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 1,1%; sản xuất sản phẩm từ cao su và platic giảm 2,3%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 3,3%; sản xuất trang phục giảm 5,8%; sản xuất đồ uống giảm 7,8%; sản xuất mô tô, xe máy giảm 10,7%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học giảm 13,2%; sản xuất xe có động cơ giảm 16,5%.

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tại thời điểm 30/9/2020 tăng 24,3% so với cùng thời điểm năm trước (cùng thời điểm năm 2019 tăng 17,2%), trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho tăng thấp hơn mức tăng chung hoặc giảm: Sản xuất đồ uống tăng 15,1%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 11,4%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 6,5%; sản xuất kim loại giảm 5,4%; sản xuất thiết bị điện giảm 7,8%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 17,4%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy giảm 32,9%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 63,8%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so với cùng thời điểm năm trước: Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 143,7%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 80,5%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 59,4%; sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 56,3%; sản xuất trang phục tăng 34,8%; sản xuất xe có động cơ tăng 33,6%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 32,1%.

Tỷ lệ tồn kho toàn ngành chế biến, chế tạo bình quân 9 tháng năm nay khá cao với 75,6% (cùng kỳ năm trước là 72,1%), trong đó một số ngành có tỷ lệ tồn kho cao: Dệt 119,3%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa 108,6%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất 104%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác 97,2%; sản xuất chế biến thực phẩm 96,5%; sản xuất xe có động cơ 91,9%.

Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/9/2020 tăng 1,3% so cùng thời điểm tháng trước và giảm 1,7% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp nhà nước giảm 1,8%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước giảm 4%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm 0,7%. Tại thời điểm trên, số lao động làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng giảm 1,2% so với cùng thời điểm năm trước; ngành chế biến, chế tạo giảm 1,8%; sản xuất và phân phối điện không đổi; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,4%.

Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 9 và 9 tháng năm 2020

Chỉ số sản xuất công nghiệp các quý năm 2020

Một số sản phẩm chủ yếu của ngành công nghiệp tháng 9 và 9 tháng năm 2020

Một số sản phẩm chủ yếu của ngành công nghiệp các quý năm 2020

Chỉ số tiêu thụ và tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo

Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp

Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp phân theo địa phương

  4. Hoạt động của doanh nghiệp

Số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới trong tháng 9/2020 giảm 12,6% so với cùng kỳ năm 2019, chủ yếu do ảnh hưởng của dịch Covid-19, bên cạnh đó tháng Chín năm nay trùng với tháng Bảy âm lịch, người dân có tâm lý hạn chế khởi sự kinh doanh. Tuy nhiên quy mô vốn đăng ký tiếp tục được các doanh nghiệp mở rộng, tăng 45% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2020, tổng số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động đạt 133,6 nghìn doanh nghiệp, tăng 2,9% so với cùng kỳ năm trước; quy mô vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 14,4 tỷ đồng, tăng 14,4%. Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cho thấy doanh nghiệp lạc quan về tình hình sản xuất kinh doanh trong quý IV/2020 với 81% doanh nghiệp đánh giá sẽ ổn định và tốt hơn.

Một số chỉ tiêu về doanh nghiệp

Doanh nghiệp đăng ký thành lập mới(*)

Doanh nghiệp quay trở lại hoạt động

Doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn

Doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể

 

 

   a) Tình hình đăng ký doanh nghiệp[13]

Trong tháng 9/2020, cả nước có 10,3 nghìn doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 203,3 nghìn tỷ đồng và số lao động đăng ký là 83 nghìn lao động, giảm 23,1% về số doanh nghiệp, giảm 29,6% về vốn đăng ký và giảm 13,8% về số lao động so với tháng trước[14]. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong tháng đạt 19,7 tỷ đồng, giảm 8,5% so với tháng trước và tăng 65,9% so với cùng kỳ năm 2019. Trong tháng, cả nước còn có 4.568 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 4,3% so với tháng trước và tăng 89,3% so với cùng kỳ năm 2019; có 3.269 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 5,4% và tăng 114,9%; có 4.097 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng 19,7% và tăng 50,8%; có 1.736 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 22,6% và tăng 14,1%; có 6.933 doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký, tăng 77% và tăng 59,1%.

Tính chung 9 tháng, cả nước có gần 99 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là 1.428,5 nghìn tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký là 777,9 nghìn lao động, giảm 3,2% về số doanh nghiệp, tăng 10,7% về vốn đăng ký và giảm 16,3% về số lao động so với cùng kỳ năm trước. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong 9 tháng đạt 14,4 tỷ đồng, tăng 14,4% so với cùng kỳ năm trước. Nếu tính cả 2.173,4 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của 29,5 nghìn doanh nghiệp thay đổi tăng vốn thì tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong 9 tháng năm nay là 3.601,9 nghìn tỷ đồng, tăng 19,2% so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó, còn có 34,6 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 25,5% so với 9 tháng năm 2019, nâng tổng số doanh nghiệp thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 9 tháng lên 133,6 nghìn doanh nghiệp, tăng 2,9% so với cùng kỳ năm trước. Trung bình mỗi tháng có 14,8 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động.

Theo khu vực kinh tế, 9 tháng năm nay có 1.949 doanh nghiệp thành lập mới thuộc khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, tăng 31,1% so với cùng kỳ năm trước; gần 29,7 nghìn doanh nghiệp thuộc khu vực công nghiệp và xây dựng, tăng 7,8%; 67,3 nghìn doanh nghiệp thuộc khu vực dịch vụ, giảm 8,1%. Trong tất cả các ngành, lĩnh vực hoạt động, bên cạnh ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản còn có ngành sản xuất phân phối điện, nước, gas có số doanh nghiệp thành lập mới đạt 4.241 doanh nghiệp, tăng 269,4% so với cùng kỳ năm trước. Các ngành còn lại đều có số doanh nghiệp thành lập mới giảm: bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có 32,5 nghìn doanh nghiệp, giảm 2,6% so với cùng kỳ năm 2019; xây dựng 12,6 nghìn doanh nghiệp, giảm 2,7%; công nghiệp chế biến, chế tạo 12,4 nghìn doanh nghiệp, giảm 4,5%; khoa học công nghệ, dịch vụ tư vấn, thiết kế, quảng cáo và chuyên môn khác 8.527 doanh nghiệp, giảm 1,1%; dịch vụ việc làm, du lịch, cho thuê máy móc thiết bị, đồ dùng và các dịch vụ hỗ trợ khác 4.987 doanh nghiệp, giảm 17%; kinh doanh bất động sản 4.841 doanh nghiệp, giảm 19,2%; vận tải, kho bãi 4.033 doanh nghiệp, giảm 5,3%; dịch vụ lưu trú và ăn uống 3.830 doanh nghiệp, giảm 21,5%; thông tin truyền thông 2.781 doanh nghiệp, giảm 3,6%; giáo dục và đào tạo 2.658 doanh nghiệp, giảm 14,4%; tài chính, ngân hàng và bảo hiểm 967 doanh nghiệp, giảm 11,9%; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội 667 doanh nghiệp, giảm 5,3%; nghệ thuật, vui chơi, giải trí 650 doanh nghiệp, giảm 37,2%; khai khoáng 500 doanh nghiệp, giảm 1,2%.

Trong 9 tháng, số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn là 38,6 nghìn doanh nghiệp, tăng 81,8% so với cùng kỳ năm trước; 27,6 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, giảm 2,4%; gần 12,1 nghìn doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 0,1%, trong đó có 10,7 nghìn doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng, giảm 1,4%; 192 doanh nghiệp có quy mô vốn trên 100 tỷ đồng, tăng 15,7%. Doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể tập trung chủ yếu ở các lĩnh vực: bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có gần 4,7 nghìn doanh nghiệp; công nghiệp chế biến, chế tạo có 1.333 doanh nghiệp; xây dựng có 1.008 doanh nghiệp; khoa học, công nghệ, dịch vụ tư vấn thiết kế, quảng cáo và chuyên môn khác có 766 doanh nghiệp; kinh doanh bất động sản có 696 doanh nghiệp; dịch vụ lưu trú và ăn uống có 650 doanh nghiệp; dịch vụ việc làm, du lịch, cho thuê máy móc thiết bị, đồ dùng, các dịch vụ hỗ trợ khác có 646 doanh nghiệp; vận tải, kho bãi có 485 doanh nghiệp; giáo dục, đào tạo có 449 doanh nghiệp; thông tin truyền thông có 425 doanh nghiệp. Trong 9 tháng, trên cả nước còn có 36,5 nghìn doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký, tăng 39,6% so với cùng kỳ năm trước.

b) Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp

Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý III/2020 cho thấy: Có 32,2% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh quý III/2020 tốt hơn quý II/2020; 31,9% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn và 35,9% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định[15]. Dự kiến quý IV/2020 so với quý III/2020, có 45,6% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên; 19% số doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn và 35,4% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định. Trong đó, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lạc quan nhất với 82,8% số doanh nghiệp dự báo tình hình sản xuất kinh doanh quý IV/2020 tốt hơn và giữ ổn định so với quý III/2020; tỷ lệ này ở khu vực doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp ngoài Nhà nước lần lượt là 81,7% và 80,2%.

Trong các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong quý III/2020, có 54,1% số doanh nghiệp cho rằng khả năng cạnh tranh cao của hàng hóa trong nước là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; 51,6% số doanh nghiệp cho rằng do nhu cầu thị trường trong nước thấp; 35% số doanh nghiệp cho rằng gặp khó khăn về tài chính; 29,4% số doanh nghiệp cho rằng nhu cầu thị trường quốc tế thấp; 26,5% số doanh nghiệp cho rằng thiếu nguyên, nhiên, vật liệu; hai yếu tố không tuyển được lao động theo yêu cầu và lãi suất vay vốn cao đều được 23,9% doanh nghiệp lựa chọn; 20,1% số doanh nghiệp cho rằng tính cạnh tranh của hàng hóa nhập khẩu cao; 19,3% số doanh nghiệp cho rằng thiết bị công nghệ lạc hậu; chỉ có 6,4% doanh nghiệp cho rằng không có khả năng tiếp cận nguồn vốn vay; 2,5% doanh nghiệp cho rằng thiếu năng lượng ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh.

Về khối lượng sản xuất, có 36% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất của doanh nghiệp quý III/2020 tăng so với quý II/2020; 30% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất giảm và 34% số doanh nghiệp cho rằng ổn định[16]. Xu hướng quý IV/2020 so với quý III/2020, có 45,9% số doanh nghiệp dự báo khối lượng sản xuất tăng; 17,5% số doanh nghiệp dự báo giảm và 36,6% số doanh nghiệp dự báo ổn định.

Về đơn đặt hàng, có 30,9% số doanh nghiệp có đơn đặt hàng quý III/2020 cao hơn quý II/2020; 30,6% số doanh nghiệp có đơn đặt hàng giảm và 38,5% số doanh nghiệp có số đơn đặt hàng ổn định[17]. Xu hướng quý IV/2020 so với quý III/2020, có 43,2% số doanh nghiệp dự kiến có đơn hàng tăng; 17,7% số doanh nghiệp dự kiến đơn hàng giảm và 39,1% số doanh nghiệp dự kiến có đơn hàng ổn định.

Về đơn đặt hàng xuất khẩu, quý III/2020 so với quý II/2020, có 26,5% số doanh nghiệp khẳng định số đơn hàng xuất khẩu mới cao hơn; 32,6% số doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu mới giảm và 40,9% số doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu mới ổn định. Xu hướng quý IV/2020 so với quý III/2020, có 35,6% số doanh nghiệp dự kiến tăng đơn hàng xuất khẩu mới; 20,4% số doanh nghiệp dự kiến giảm và 44% số doanh nghiệp dự kiến ổn định.

5. Hoạt động dịch vụ

a) Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Hoạt động thương mại dịch vụ trong tháng có dấu hiệu tăng trở lại, thị trường hàng hóa và đời sống của người dân dần ổn định, các điểm tham quan, du lịch trên địa bàn nhiều tỉnh/thành phố đã mở cửa trở lại. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 9/2020 tăng 2,7% so với tháng trước và tăng 4,9% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2020, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng nhẹ 0,7%.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Chín ước tính đạt 441,4 nghìn tỷ đồng, tăng 2,7% so với tháng trước và tăng 4,9% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý III/2020, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tính đạt 1.305,8 nghìn tỷ đồng, tăng 14,4% so với quý trước và tăng 4,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 1.022,9 nghìn tỷ đồng, tăng 11,5% và tăng 8,3%; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 136,5 nghìn tỷ đồng, tăng 28,2% và giảm 7,8%; doanh thu du lịch lữ hành đạt 4,6 nghìn tỷ đồng, tăng 161,3% và giảm 59,5%; doanh thu dịch vụ khác đạt 141,8 nghìn tỷ đồng, tăng 21,8% và giảm 2,8%.

Tính chung 9 tháng năm 2020, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 3.673,5 nghìn tỷ đồng, tăng 0,7% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá giảm 3,6% (cùng kỳ năm 2019 tăng 10,8%).

Xét theo ngành hoạt động, doanh thu bán lẻ hàng hóa 9 tháng đạt 2.907,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 79,1% tổng mức và tăng 4,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành hàng lương thực, thực phẩm tăng 8,8%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 5,8%; may mặc tăng 0,8%; phương tiện đi lại giảm 1,7%; vật phẩm văn hoá, giáo dục giảm 2,2%. Doanh thu bán lẻ hàng hóa 9 tháng so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương: Hải Phòng tăng 11,3%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 10%; Hà Nội tăng 9,6%; Bình Định tăng 4,9%; Quảng Nam tăng 3,4%; Thanh Hóa tăng 3,2%; Cần Thơ tăng 2,9%; Nghệ An tăng 2,4%; Đà Nẵng giảm 6%; Khánh Hòa giảm 2%.

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống 9 tháng năm nay ước tính đạt 369,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 10,1% tổng mức và giảm 15% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2019 tăng 9,6%). Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống 9 tháng năm nay so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương: Khánh Hòa giảm 59,8%; Quảng Nam giảm 53,8%; Bà Rịa - Vũng Tàu giảm 41,3%; thành phố Hồ Chí Minh giảm 39,9%; Đà Nẵng giảm 35,7%; Cần Thơ giảm 24,7%; Bình Định giảm 16,3%; Thanh Hóa giảm 16,2%; Hà Nội giảm 15,7%; Tiền Giang giảm 14,5%; Kiên Giang giảm 9,3%; Hải Phòng giảm 9,2%; Đồng Tháp giảm 8,5%; Quảng Ninh giảm 7,4%; Bình Dương giảm 2,2%.

Doanh thu du lịch lữ hành 9 tháng ước tính đạt 14,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 0,4% tổng mức và giảm 56,3% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2019 tăng 9,9%). Một số địa phương có doanh thu du lịch lữ hành 9 tháng giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước: Khánh Hòa giảm 78,7%; thành phố Hồ Chí Minh giảm 73,7%; Quảng Nam giảm 70,6%; Bà Rịa - Vũng Tàu giảm 68,5%; Đà Nẵng giảm 68,1%; Cần Thơ giảm 57,1%; Quảng Ninh giảm 49,8%; Bình Định giảm 44,3%; Hà Nội giảm 42,6%; Thanh Hóa giảm 39,9%; Hải Phòng giảm 34,9%.

Doanh thu dịch vụ khác 9 tháng ước tính đạt 383 nghìn tỷ đồng, chiếm 10,4% tổng mức và giảm 5,6% so với cùng kỳ năm 2019, trong đó doanh thu của Quảng Nam giảm 37%; Đà Nẵng giảm 18,9%; Thanh Hóa giảm 12%; thành phố Hồ Chí Minh giảm 8,6%; Bà Rịa - Vũng Tàu giảm 8,2%; Hà Nội giảm 5,1%; Cần Thơ giảm 3,8%; Hải Phòng giảm 3,7%. 

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 9 và 9 tháng năm 2020

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

   b) Vận tải và viễn thông

Hoạt động vận tải tháng Chín có những tín hiệu tích cực hơn với mức tăng 6,8% lượng hành khách vận chuyển và tăng 4,5% lượng hàng hóa vận chuyển so với tháng trước. Tính chung 9 tháng năm 2020, vận chuyển hành khách giảm 29,6% và vận chuyển hàng hóa giảm 7,3% so với cùng kỳ năm 2019, trong đó lượng hành khách và hàng hóa vận chuyển quý III mặc dù có tăng so với quý II nhưng vẫn giảm 34% và giảm 6,4% so với cùng kỳ năm trước. Hàng không là ngành chịu ảnh hưởng nặng nề nhất do dịch Covid-19 trong 9 tháng với mức giảm 45,5% về lượng hành khách và 39,4% về lượng hàng hóa vận chuyển.

Vận tải hành khách tháng Chín ước tính đạt 268,7 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 6,8% so với tháng trước và luân chuyển 11,2 tỷ lượt khách.km, tăng 7,9%; quý III năm nay ước tính đạt 815,3 triệu lượt khách vận chuyển, giảm 34% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 35,8 tỷ lượt khách.km, giảm 42,1%. Tính chung 9 tháng, vận tải hành khách đạt 2.625,8 triệu lượt khách vận chuyển, giảm 29,6% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2019 tăng 10,5%) và luân chuyển 119,4 tỷ lượt khách.km, giảm 35,2% (cùng kỳ năm trước tăng 9,8%), trong đó vận tải trong nước đạt 2.623,1 triệu lượt khách, giảm 29,5% và 109,5 tỷ lượt khách.km, giảm 25,4%; vận tải ngoài nước đạt 2,8 triệu lượt khách, giảm 77,7% và 9,9 tỷ lượt khách.km, giảm 73,6%. Xét theo ngành vận tải, tất cả các ngành đường đều giảm do ảnh hưởng của dịch Covid-19, trong đó vận tải hành khách đường bộ 9 tháng đạt 2.443,9 triệu lượt khách, giảm 30,4% so với cùng kỳ năm trước và 89,5 tỷ lượt khách.km, giảm 25,5%; đường thủy nội địa đạt 151,5 triệu lượt khách, giảm 8,9% và 2,9 tỷ lượt khách.km, giảm 12,9%; hàng không đạt 22,5 triệu lượt khách, giảm 45,5% và 25,4 tỷ lượt khách.km, giảm 55,9%; đường biển đạt 5 triệu lượt khách, giảm 26,8% và 238 triệu lượt khách.km, giảm 27%; đường sắt đạt 2,9 triệu lượt khách, giảm 55,9% và 1,3 tỷ lượt khách.km, giảm 53%.

Vận tải hàng hóa tháng Chín ước tính đạt 156,8 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 4,5% so với tháng trước và luân chuyển 27,9 tỷ tấn.km, tăng 3,2%; quý III năm nay ước tính đạt 454,2 triệu tấn hàng hóa, giảm 6,4% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 82,6 tỷ tấn.km, giảm 10,4%. Tính chung 9 tháng, vận tải hàng hóa đạt 1.264,6 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, giảm 7,3% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2019 tăng 8,9%)luân chuyển 242,5 tỷ tấn.km, giảm 8,2% (cùng kỳ năm trước tăng 7,5%), trong đó vận tải trong nước đạt 1.239,9 triệu tấn, giảm 7,2% và 126,2 tỷ tấn.km, giảm 12,4%; vận tải ngoài nước đạt 24,7 triệu tấn, giảm 14,9% và 116,3 tỷ tấn.km, giảm 3,2%. Xét theo ngành vận tải, vận tải hàng hóa đường bộ 9 tháng đạt 963,9 triệu tấn, giảm 7,4% so với cùng kỳ năm trước và 65,2 tỷ tấn.km, giảm 14,2%; đường thủy nội địa đạt 238,1 triệu tấn, giảm 7,6% và 48,2 tỷ tấn.km, giảm 5,7%; đường biển đạt 58,7 triệu tấn, giảm 4,9% và 123,8 tỷ tấn.km, giảm 3,8%; đường sắt đạt 3,7 triệu tấn, giảm 1,4% và 2,7 tỷ tấn.km, giảm 0,4%; đường hàng không đạt 196,6 nghìn tấn, giảm 39,4% và 2,6 tỷ tấn.km, giảm 54,2%.

Doanh thu hoạt động viễn thông quý III/2020 ước tính đạt 91,9 nghìn tỷ đồng, giảm 1,8% so với cùng kỳ năm trước (nếu loại trừ yếu tố giá tăng 3,6%). Tính chung 9 tháng năm 2020, doanh thu đạt 278,2 nghìn tỷ đồng, giảm 0,4% so với cùng kỳ năm trước (nếu loại trừ yếu tố giá tăng 4,1%). Tổng số thuê bao điện thoại tại thời điểm cuối tháng 9/2020 ước tính đạt 130,4 triệu thuê bao, giảm 2% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó thuê bao di động đạt 127,1 triệu thuê bao, giảm 1,8% chủ yếu do các nhà mạng tiếp tục xử lý sim rác theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông. Số thuê bao truy nhập internet băng rộng cố định tại thời điểm cuối tháng Chín ước tính đạt 16,1 triệu thuê bao, tăng 12,8% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó thuê bao truy nhập qua hệ thống cáp quang (FTTH) và qua hệ thống cáp truyền hình (CATV) tăng nhanh, thuê bao truy nhập qua hình thức xDSL tiếp tục giảm.

Vận tải hành khách tháng 9 và 9 tháng năm 2020

Vận tải hành khách các quý năm 2020

Vận tải hàng hoá tháng 9 và 9 tháng năm 2020

Vận tải hàng hoá các quý năm 2020

 

c) Khách quốc tế đến Việt Nam

Khách quốc tế đến nước ta trong quý III/2020 đạt 44 nghìn lượt người, chỉ bằng 1% so với cùng kỳ năm trước do Việt Nam tiếp tục thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19, chưa mở cửa du lịch quốc tế nên lượng khách đến chủ yếu là chuyên gia, lao động kỹ thuật nước ngoài làm việc tại các dự án ở Việt Nam. Tính chung 9 tháng năm 2020, khách quốc tế đến nước ta đạt gần 3,8 triệu lượt người, giảm 70,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó hơn 97% là khách quốc tế đến trong quý I/2020[18].

Khách quốc tế đến nước ta trong tháng Chín ước tính đạt 13,8 nghìn lượt người[19], giảm 15,5% so với tháng trước và giảm 99,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2020, khách quốc tế đến nước ta ước tính đạt 3.788,5 nghìn lượt người, giảm 70,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến bằng đường hàng không đạt 3.056,9 nghìn lượt người, chiếm 80,7% lượng khách quốc tế đến Việt Nam, giảm 70%; bằng đường bộ đạt 587 nghìn lượt người, chiếm 15,5% và giảm 76,4%; bằng đường biển đạt 144,6 nghìn lượt người, chiếm 3,8% và giảm 23,8%.

Trong 9 tháng năm nay, khách đến từ châu Á đạt 2.770,2 nghìn lượt người, chiếm 73,1% tổng số khách quốc tế đến nước ta, giảm 72,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khách đến từ hầu hết các thị trường chính đều giảm mạnh: Trung Quốc đạt 937,8 nghìn lượt người, giảm 76,4% so với cùng kỳ năm trước; Hàn Quốc 830,4 nghìn lượt người, giảm 73,6%; Nhật Bản 203 nghìn lượt người, giảm 71,5%; Đài Loan 194,2 nghìn lượt người, giảm 71,2%; Ma-lai-xi-a 116,8 nghìn lượt người, giảm 73%; riêng khách đến từ Cam-pu-chia đạt 121,4 nghìn lượt người, tăng 11,9%.

Khách đến từ châu Âu trong 9 tháng ước tính đạt 668,3 nghìn lượt người, giảm 58,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến từ Liên bang Nga 246 nghìn lượt người, giảm 48,6%; Vương quốc Anh 81,9 nghìn lượt người, giảm 65,5%; Pháp 74,8 nghìn lượt người, giảm 65,3%; Đức 61,7 nghìn lượt người, giảm 62,3%. Khách đến từ châu Mỹ ước tính đạt 235,2 nghìn lượt người, giảm 68,1% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu là khách đến từ Hoa Kỳ đạt 173,2 nghìn lượt người, giảm 69,6%. Khách đến từ châu Úc đạt 102,6 nghìn lượt người, giảm 68,9%, trong đó khách đến từ Ôx-trây-li-a đạt 92,5 nghìn lượt người, giảm 68,3%. Khách đến từ châu Phi đạt 12,2 nghìn lượt người, giảm 64,5% so với cùng kỳ năm 2019.

 

Khách quốc tế đến Việt Nam tháng 9 và 9 tháng năm 2020

 

II. ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ, KIỂM SOÁT LẠM PHÁT

1. Hoạt động ngân hàng, bảo hiểm, thị trường chứng khoán

Hoạt động của hệ thống tổ chức tín dụng trong 9 tháng năm 2020 chịu ảnh hưởng tiêu cực của dịch Covid-19, tăng trưởng tín dụng tính đến thời điểm 22/9/2020 đạt mức thấp 5,12%. Tuy nhiên, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã điều chỉnh lãi suất điều hành nhằm ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối. Hoạt động kinh doanh bảo hiểm tăng trưởng khá, đảm bảo quyền lợi người tham gia bảo hiểm. Tổng mức huy động vốn trên thị trường chứng khoán cho nền kinh tế 9 tháng năm 2020 tăng 1,43% so với cùng kỳ năm trước.

Tính đến thời điểm 22/9/2020, tổng phương tiện thanh toán tăng 7,74% so với cuối năm 2019 (cùng thời điểm năm 2019 tăng 8,41%); huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 7,7% (cùng thời điểm năm 2019 tăng 8,79%); tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 5,12% (cùng thời điểm năm 2019 tăng 8,51%).

Từ đầu năm đến nay, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã 2 lần điều chỉnh giảm các mức lãi suất điều hành để hỗ trợ thanh khoản cho các tổ chức tín dụng, giảm chi phí vay vốn của doanh nghiệp và người dân làm mặt bằng lãi suất trên thị trường có xu hướng giảm. Hiện nay, lãi suất huy động bằng đồng Việt Nam phổ biến ở mức 0,1%-0,2%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 3,7%-4,1%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 4,4%-6,4%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng; kỳ hạn từ 12 tháng trở lên ở mức 6,0%-7,1%/năm. Mặt bằng lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng đồng Việt Nam đối với một số ngành, lĩnh vực phổ biến ở mức 5,0%/năm.

Doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường 9 tháng năm 2020 ước tính tăng 14% so với cùng kỳ năm trước (quý III/2020 tăng 12%), trong đó doanh thu phí bảo hiểm lĩnh vực nhân thọ tăng 17%; lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ tăng 7%. Trong 8 tháng năm 2020, chi trả quyền lợi bảo hiểm ước tính đạt gần 30 nghìn tỷ đồng, tăng 18,3% so với cùng kỳ năm 2019; tổng nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp bảo hiểm đạt 110,7 nghìn tỷ đồng, tăng 18,3%; tổng giá trị tài sản trong lĩnh vực bảo hiểm đạt 525,4 nghìn tỷ đồng, tăng 19,9%; tổng vốn đầu tư trở lại nền kinh tế của ngành bảo hiểm đạt 422,7 nghìn tỷ đồng, tăng 15,2%; quỹ dự phòng nghiệp vụ của doanh nghiệp bảo hiểm đạt 338,4 nghìn tỷ đồng, tăng 23,8%.

Trong tháng Chín, thị trường chứng khoán Việt Nam đã có tín hiệu phục hồi nhờ kiểm soát tốt dịch Covid-19 và hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp từng bước trở lại trạng thái bình thường. Tính chung 9 tháng, tổng mức huy động vốn cho nền kinh tế của thị trường chứng khoán ước tính đạt 228,8 nghìn tỷ đồng, tăng 1,43% so với cùng kỳ năm trước.

Trên thị trường cổ phiếu, tính đến sáng ngày 24/9/2020, chỉ số VNIndex đạt 912,5 điểm, tăng 3,5% so với cuối tháng trước và giảm 5% so với cuối năm 2019. Tính đến ngày 18/9/2020, mức vốn hóa thị trường đạt 4.263 nghìn tỷ đồng, giảm 2,8% so với cuối năm 2019; giá trị giao dịch bình quân đạt 7.607 tỷ đồng/phiên, tăng 19% so với tháng trước. Tính chung 9 tháng năm 2020, giá trị giao dịch bình quân trên thị trường đạt 5.835 tỷ đồng/phiên, tăng 25,3% so với bình quân năm 2019. Hiện nay, thị trường có 744 cổ phiếu và chứng chỉ quỹ niêm yết; 905 cổ phiếu đăng ký giao dịch trên sàn UPCoM với tổng giá trị niêm yết và đăng ký giao dịch đạt 1.443 nghìn tỷ đồng, tăng 3% so với cuối năm 2019.

Trên thị trường trái phiếu, hiện có 496 mã trái phiếu niêm yết với giá trị niêm yết đạt 1.272 nghìn tỷ đồng, tăng 7% so với cuối năm 2019. Giá trị giao dịch bình quân trên thị trường trong tháng Chín đạt 8.648 tỷ đồng/phiên, tăng 1,5% so với tháng trước. Tính chung 9 tháng, giá trị giao dịch bình quân đạt 9.674 tỷ đồng/phiên, tăng 5,1% so với bình quân năm 2019.

Trên thị trường chứng khoán phái sinh, khối lượng giao dịch bình quân trong tháng Chín đạt 126.957 hợp đồng/phiên, giảm 32% so với tháng trước. Tính chung 9 tháng năm 2020, khối lượng giao dịch bình quân đạt 170.348 hợp đồng/phiên, tăng 92% so với bình quân năm trước. Số lượng tài khoản giao dịch phái sinh tiếp tục tăng. Tại thời điểm cuối tháng 8/2020, số lượng tài khoản giao dịch phái sinh đạt 138.326 tài khoản, tăng 4,6% so với cuối tháng trước.

2. Đầu tư phát triển

Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện 9 tháng năm 2020 tăng 4,8% so với cùng kỳ năm 2019, mức tăng thấp nhất trong giai đoạn 2016-2020 do ảnh hưởng tiêu cực của dịch Covid-19 đến tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, tốc độ tăng vốn thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng Chín và 9 tháng đều đạt mức cao nhất trong giai đoạn 2016-2020[20]. Vốn đầu tư thực hiện khu vực Nhà nước có xu hướng tăng cao là kết quả đẩy mạnh thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công, nhằm duy trì đà tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh dịch Covid-19 đã được kiểm soát tốt tại Việt Nam. 

Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện quý III/2020 theo giá hiện hành ước tính đạt 597,2 nghìn tỷ đồng, tăng 7,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vốn khu vực Nhà nước tăng 21,5%; khu vực ngoài Nhà nước tăng 1,6%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm 0,2%.

Tính chung 9 tháng năm 2020, vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện theo giá hiện hành ước tính đạt 1.445,4 nghìn tỷ đồng, tăng 4,8% so với cùng kỳ năm trước và bằng 34,7% GDP, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước đạt 484,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 33,5% tổng vốn và tăng 13,4% so với cùng kỳ năm trước; khu vực ngoài Nhà nước đạt 641,5 nghìn tỷ đồng, bằng 44,4% và tăng 2,8%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 319,1 nghìn tỷ đồng, bằng 22,1% và giảm 2,5%.

 

Tốc độ phát triển và cơ cấu vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện

9 tháng giai đoạn 2016-2020 (Theo giá hiện hành)

 

%

 

Tổng

số

Chia ra:

 

Khu vực
Nhà nước

Khu vực
ngoài Nhà nước

Khu vực có
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Tốc độ phát triển

Năm 2016

109,6

106,0

110,3

114,1

Năm 2017

112,3

107,0

116,6

113,5

Năm 2018

110,6

103,3

117,9

109,1

Năm 2019

110,3

103,2

116,8

108,4

Năm 2020

104,8

113,4

102,8

97,5

Cơ cấu

Năm 2016

100,0

37,2

38,6

24,2

Năm 2017

100,0

35,5

40,1

24,4

Năm 2018

100,0

33,2

42,7

24,1

Năm 2019

100,0

31,0

45,3

23,7

Năm 2020

100,0

33,5

44,4

22,1

 

 

Trong vốn đầu tư của khu vực Nhà nước, vốn từ ngân sách Nhà nước thực hiện 9 tháng ước tính đạt 303 nghìn tỷ đồng, bằng 59,7% kế hoạch năm và tăng 33,3% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2019 bằng 59,3% và tăng 6,3%), gồm có: Vốn trung ương quản lý đạt 52,1 nghìn tỷ đồng, bằng 56,7% kế hoạch năm và tăng 69,6% so với cùng kỳ năm trước; vốn địa phương quản lý đạt 250,9 nghìn tỷ đồng, bằng 60,3% và tăng 27,7%, trong đó vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 168,7 nghìn tỷ đồng, bằng 57,9% và tăng 27,1%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 69,5 nghìn tỷ đồng, bằng 64,7% và tăng 29,3%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 12,7 nghìn tỷ đồng, bằng 73,9% và tăng 26,5%.

Tổng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tính đến ngày 20/9/2020 bao gồm vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 21,2 tỷ USD, giảm 18,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó có 1.947 dự án được cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 10,4 tỷ USD, giảm 29,4% về số dự án và giảm 5,6% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước; có 798 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt trên 5,1 tỷ USD, tăng 6,8%; có 5.172 lượt góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị góp vốn 5,7 tỷ USD, giảm 44,9%. Trong tổng số lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài có 1.296 lượt góp vốn, mua cổ phần làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp với giá trị góp vốn là 2,1 tỷ USD và 3.876 lượt nhà đầu tư nước ngoài mua lại cổ phần trong nước mà không làm tăng vốn điều lệ với giá trị 3,6 tỷ USD. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 9 tháng ước tính đạt gần 13,8 tỷ USD, giảm 3,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 9,8 tỷ USD, chiếm 71,2% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt gần 2 tỷ USD, chiếm 14,3%; sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt gần 1 tỷ USD, chiếm 6,9%.

Trong 9 tháng, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo được cấp phép mới đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất với số vốn đăng ký đạt 4,7 tỷ USD, chiếm 45,5% tổng vốn đăng ký cấp mới; ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt gần 4,4 tỷ USD, chiếm 41,9%; các ngành còn lại đạt 1,3 tỷ USD, chiếm 12,6%. Nếu tính cả vốn đăng ký điều chỉnh của các dự án đã cấp phép từ các năm trước thì vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt gần 8,4 tỷ USD, chiếm 54% tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm; ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 4,2 tỷ USD[21], chiếm 27,3%; các ngành còn lại đạt 2,9 tỷ USD, chiếm 18,7%. Đối với hình thức góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài, vốn đầu tư vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt hơn 1,5 tỷ USD, chiếm 26,6% giá trị góp vốn; hoạt động sản xuất kinh doanh bất động sản đạt gần 1,5 tỷ USD, chiếm 26,1%; các ngành còn lại 2,7 tỷ USD, chiếm 47,3%.

Trong số 72 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới tại Việt Nam trong 9 tháng, Xin-ga-po là nhà đầu tư lớn nhất với 4,7 tỷ USD, chiếm 44,9% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Trung Quốc 1.079,7 triệu USD, chiếm 10,42%; Hàn Quốc 1.076,6 triệu USD, chiếm 10,39%; Đặc khu hành chính Hồng Công (TQ) 876,1 triệu USD, chiếm 8,5%; Đài Loan (TQ) 852,4 triệu USD, chiếm 8,2%.

Đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài trong 9 tháng năm 2020 có 96 dự án được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư mới với tổng số vốn đăng ký của phía Việt Nam đạt 268,3 triệu USD; có 28 lượt dự án điều chỉnh vốn với số vốn tăng thêm 163,8 triệu USD. Tính chung tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (vốn cấp mới và tăng thêm) đạt 432,1 triệu USD, tăng 0,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 227,7 triệu USD, chiếm 52,7% tổng vốn đầu tư; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ đạt 62,6 triệu USD, chiếm 14,5%; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm đạt 54,8 triệu USD, chiếm 12,7%; dịch vụ lưu trú và ăn uống đạt 39,6 triệu USD, chiếm 9,2%. Trong 9 tháng có 25 quốc gia và vùng lãnh thổ nhận đầu tư của Việt Nam, trong đó Đức là nước dẫn đầu với 92,6 triệu USD, chiếm 21,4%; Lào 88,7 triệu USD, chiếm 20,5%; Ô-xtrây-li-a 71,8 triệu USD, chiếm 16,6%; Hoa Kỳ 67,8 triệu USD, chiếm 15,7%.

Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực hiện theo giá hiện hành

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng 9 và 9 thág năm 2020

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước các quý năm 2020

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài được cấp phép từ 01/01- 20/9/2020

 
   3. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Dịch Covid-19 tiếp tục được kiểm soát trên phạm vi cả nước, một số địa phương trong vùng dịch nới lỏng biện pháp giãn cách xã hội, từng bước khôi phục trở lại các hoạt động kinh tế đã tác động đến kết quả thu, chi ngân sách Nhà nước trong tháng 9/2020.

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/9/2020 ước tính đạt 902,5 nghìn tỷ đồng, bằng 59,7% dự toán năm, trong đó thu nội địa đạt 747,3 nghìn tỷ đồng, bằng 59,1%; thu từ dầu thô 26,3 nghìn tỷ đồng, bằng 74,9%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 128 nghìn tỷ đồng, bằng 61,6%. Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước đạt 91,9 nghìn tỷ đồng, bằng 51,7% dự toán năm; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) 125,3 nghìn tỷ đồng, bằng 54,8%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 132,9 nghìn tỷ đồng, bằng 49%; thu thuế thu nhập cá nhân 84,2 nghìn tỷ đồng, bằng 65,4%; thu thuế bảo vệ môi trường 40 nghìn tỷ đồng, bằng 59,2%; thu tiền sử dụng đất 93,7 nghìn tỷ đồng, bằng 97,7%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/9/2020 ước tính đạt 1.036,4 nghìn tỷ đồng, bằng 59,3% dự toán năm, trong đó chi thường xuyên đạt 716,3 nghìn tỷ đồng, bằng 67,8%; chi đầu tư phát triển 235,3 nghìn tỷ đồng, bằng 50%; chi trả nợ lãi 78,4 nghìn tỷ đồng, bằng 66,3%.

4. Xuất, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ

a) Xuất nhập khẩu hàng hóa[22]

Trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến phức tạp trên thế giới làm đứt gãy thương mại quốc tế, hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vẫn giữ được mức tăng dương, trong đó nổi lên vai trò của khu vực kinh tế trong nước khi kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu 9 tháng đều tăng so với cùng kỳ năm trước. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa tháng 9/2020 ước tính đạt 51,5 tỷ USD, tăng 15% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm nay, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 388,73 tỷ USD, tăng 1,8%, trong đó xuất khẩu đạt 202,86 tỷ USD, tăng 4,2%; nhập khẩu đạt 185,87 tỷ USD, giảm 0,8%[23]. Khu vực kinh tế trong nước có giá trị kim ngạch xuất khẩu 9 tháng tăng cao 20,2%, nhập khẩu tăng 4,7%. Cán cân thương mại 9 tháng tiếp tục xuất siêu, đạt mức 16,99 tỷ USD.   

Hàng hóa xuất khẩu

Hàng hóa xuất khẩu các quý năm 2020

Hàng hóa nhập khẩu

Hàng hóa nhập khẩu các quý năm 2020

Xuất, nhập khẩu dịch vụ

    Xuất khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu thực hiện tháng 8/2020 đạt 27.702 triệu USD, cao hơn 1.202 triệu USD so với số ước tính, trong đó máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng cao hơn 338 triệu USD; đá quý, kim loại quý và sản phẩm cao hơn 234 triệu USD; phương tiện vận tải và phụ tùng cao hơn 150 triệu USD; sắt thép cao hơn 112 triệu USD; điện tử, máy tính và linh kiện cao hơn 101 triệu USD; gạo cao hơn 53 triệu USD.

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 9/2020 ước tính đạt 27,5 tỷ USD, giảm 0,7% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 10,3 tỷ USD, tăng 0,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 17,2 tỷ USD, giảm 1,4%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Chín tăng 18%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 46,3%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 5,8%.

Trong quý III/2020, kim ngạch xuất khẩu đạt 80,07 tỷ USD, tăng 11% so với cùng kỳ năm trước và tăng 34,4% so với quý II năm nay (tăng 26,6% so với quý I). Trong quý III có 10 mặt hàng đạt giá trị xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 74,8% tổng kim ngạch xuất khẩu, trong đó mặt hàng điện thoại và linh kiện dẫn đầu với 14,7 tỷ USD, chiếm 18,4% tổng kim ngạch xuất khẩu, giảm 3,9% so với cùng kỳ năm trước; điện tử máy tính và linh kiện đạt 12,8 tỷ USD, tăng 26,4%; hàng dệt may đạt 8,9 tỷ USD, giảm 6,7%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 7,8 tỷ USD, tăng 62,8%.

Tính chung 9 tháng năm 2020, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 202,86 tỷ USD, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước tiếp tục là động lực cho sự tăng trưởng của hoạt động xuất khẩu cả nước khi đạt 71,83 tỷ USD, tăng mạnh 20,2%, chiếm 35,4% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 131,03 tỷ USD, giảm 2,9%, chiếm 64,6%.

Trong 9 tháng có 30 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 91,3% tổng kim ngạch xuất khẩu (5 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 59,8%), trong đó điện thoại và linh kiện có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất, đạt 36,7 tỷ USD, chiếm 18,1% tổng kim ngạch xuất khẩu, giảm 5,5% so với cùng kỳ năm trước; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 32,2 tỷ USD, tăng 25,9%; hàng dệt may đạt 22,1 tỷ USD, giảm 10,3%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 18,2 tỷ USD, tăng 39,8%; giày dép đạt 12,1 tỷ USD, giảm 8,8%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 8,5 tỷ USD, tăng 12,4%; phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 6,5 tỷ USD, tăng 2,8%; thủy sản đạt 6 tỷ USD, giảm 3%. Nhìn chung, tỷ trọng xuất khẩu của một số mặt hàng chủ lực vẫn thuộc về khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, trong đó: Điện thoại và linh kiện chiếm 92,8%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng chiếm 66,4%; giày dép chiếm 75,9%; hàng dệt may 56,6%. Kim ngạch xuất khẩu 9 tháng các mặt hàng nông sản vẫn tiếp tục giảm so với cùng kỳ năm trước do giá xuất khẩu bình quân của hầu hết các mặt hàng nông sản đều biến động giảm: Rau quả đạt 2,5 tỷ USD, giảm 11%; hạt điều đạt 2,3 tỷ USD, giảm 4% (lượng tăng 10,6%); cà phê đạt 2,2 tỷ USD, giảm 1% (lượng giảm 1,4%); cao su đạt 1,5 tỷ USD, giảm 4% (lượng tăng 2,4%); hạt tiêu đạt 489 triệu USD, giảm 17,6% (lượng giảm 5,9%). Riêng mặt hàng gạo đạt 2,5 tỷ USD, tăng 12% (lượng giảm 0,6%).

Về cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu 9 tháng, nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản ước tính đạt 108,79 tỷ USD, tăng 7,4% so với cùng kỳ năm trước; chiếm 53,6% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu (tăng 1,6 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước). Nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp ước tính đạt 73,41 tỷ USD, tăng 2,2% và chiếm 36,2% (giảm 0,7 điểm phần trăm). Nhóm hàng nông, lâm sản đạt 14,63 tỷ USD, giảm 4,7% và chiếm 7,2% (giảm 0,7 điểm phần trăm). Nhóm hàng thủy sản đạt 6,03 tỷ USD, giảm 3% và chiếm 3% (giảm 0,2 điểm phần trăm).

Về thị trường hàng hóa xuất khẩu 9 tháng năm 2020, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 54,8 tỷ USD, tăng 22,9% so với cùng kỳ năm trước. Tiếp đến là Trung Quốc đạt 31,9 tỷ USD, tăng 12,7%. Thị trường EU đạt 26 tỷ USD, giảm 2,6%. Thị trường ASEAN đạt 17 tỷ USD, giảm 12,5%. Hàn Quốc đạt 14,5 tỷ USD, giảm 2%. Nhật Bản đạt 14,1 tỷ USD, giảm 5,7%.

b) Nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu thực hiện tháng 8/2020 đạt 22.717 triệu USD, thấp hơn 283 triệu USD so với số ước tính, trong đó sắt thép thấp hơn 175 triệu USD; vải thấp hơn 138 triệu USD; xăng dầu thấp hơn 82 triệu USD.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 9/2020 ước tính đạt 24 tỷ USD, tăng 5,6% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 10,6 tỷ USD, tăng 5,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 13,4 tỷ USD, tăng 5,9%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng Chín tăng 11,6%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 22,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 4,8%.

Trong quý III/2020, kim ngạch nhập khẩu đạt 68,54 tỷ USD, tăng 3% so với cùng kỳ năm trước và tăng 18,5% so với quý II năm nay (tăng 15,2% so với quí I). Trong quý III có 14 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 73,4% tổng trị giá nhập khẩu, trong đó: Điện tử, máy tính và linh kiện đạt giá trị cao nhất với 17,9 tỷ USD (chiếm 26,1% tổng giá trị kim ngạch nhập khẩu), tăng 24,6% so với quý cùng kỳ năm trước; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 9,5 tỷ USD, tăng 3,1%; điện thoại và linh kiện đạt 4,6 tỷ USD, giảm 4,6%; vải đạt 2,9 tỷ USD, giảm 8,3%.

Tính chung 9 tháng năm 2020, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu ước tính đạt 185,87 tỷ USD, giảm 0,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 82,35 tỷ USD, tăng 4,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 103,52 tỷ USD, giảm 4,8%.

Trong 9 tháng năm 2020 có 32 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 88,3% tổng kim ngạch nhập khẩu, trong đó: Điện tử, máy tính và linh kiện đạt 45,1 tỷ USD (chiếm 24,2% tổng kim ngạch nhập khẩu), tăng 17,8% so với cùng kỳ năm trước; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 26,3 tỷ USD, giảm 1,8%; điện thoại và linh kiện đạt 10,6 tỷ USD, giảm 0,6%; vải đạt 8,4 tỷ USD, giảm 13,4%; sắt thép đạt 6,1 tỷ USD, giảm 15,5%; chất dẻo đạt 6 tỷ USD, giảm 11,2%; sản phẩm chất dẻo đạt 5,2 tỷ USD, tăng 8,1%; kim loại thường đạt 4,3 tỷ USD, giảm 9,4%; ô tô đạt 4,1 tỷ USD, giảm 24,5%; sản phẩm hóa chất đạt 4 tỷ USD, tăng 2,8%.

Về cơ cấu hàng hóa nhập khẩu 9 tháng năm 2020, nhóm hàng tư liệu sản xuất ước tính đạt 173,71 tỷ USD, giảm 1,1% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 93,5% tổng kim ngạch hàng hóa nhập khẩu (giảm 0,3 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước), trong đó nhóm hàng máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 87,47 tỷ USD, tăng 0,9% và chiếm 47,1% (tăng 0,8 điểm phần trăm); nhóm hàng nguyên, nhiên, vật liệu đạt 86,24 tỷ USD, giảm 3,1% và chiếm 46,4% (giảm 1,1 điểm phần trăm). Nhóm hàng tiêu dùng ước tính đạt 12,16 tỷ USD, tăng 4,4% và chiếm 6,5% (tăng 0,3 điểm phần trăm).

Về thị trường hàng hóa nhập khẩu 9 tháng năm 2020, Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 56,8 tỷ USD, tăng 2,7% so với cùng kỳ năm trước. Tiếp theo là thị trường Hàn Quốc đạt 32,8 tỷ USD, giảm 7,1%. Thị trường ASEAN đạt 21,8 tỷ USD, giảm 8,7%. Nhật Bản đạt 14,6 tỷ USD, tăng 2,8%. Thị trường EU đạt 10,8 tỷ USD, tăng 5,6%. Hoa Kỳ đạt 10,5 tỷ USD, giảm 1,6%.

Cán cân thương mại hàng hóa thực hiện tháng Tám xuất siêu 5 tỷ USD[24]; 8 tháng xuất siêu 13,5 tỷ USD; tháng Chín ước tính xuất siêu 3,5 tỷ USD. Tính chung 9 tháng năm 2020, cán cân thương mại hàng hóa tiếp tục xuất siêu 16,99 tỷ USD[25] (cùng kỳ năm trước xuất siêu 7,27 tỷ USD), trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 10,52 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 27,51 tỷ USD.

c) Xuất, nhập khẩu dịch vụ

Trong quý III/2020, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ đạt 787 triệu USD, giảm 84,2% so với cùng kỳ năm trước (quý II giảm 80,4%; quý I giảm 23,6%); kim ngạch nhập khẩu dịch vụ đạt 4,6 tỷ USD, giảm 16,3% (quý II giảm 23,2%; quý I giảm 3,2%).

Trong 9 tháng năm 2020, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ ước tính đạt 5,47 tỷ USD, giảm 62,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó dịch vụ du lịch đạt 2,5 tỷ USD (chiếm 45,1% tổng kim ngạch), giảm 70,9%; dịch vụ vận tải đạt 665 triệu USD (chiếm 12,2%), giảm 79,6%. Kim ngạch nhập khẩu dịch vụ 9 tháng năm nay ước tính đạt 13,63 tỷ USD, giảm 14,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó dịch vụ vận tải đạt 5,9 tỷ USD (chiếm 43,3% tổng kim ngạch), giảm 0,3%; dịch vụ du lịch đạt 3,2 tỷ USD (chiếm 23,6%), giảm 33,4%. Nhập siêu dịch vụ trong 9 tháng năm 2020 là 8,16 tỷ USD, bằng 149,2% kim ngạch xuất khẩu dịch vụ.

5. Chỉ số giá

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 9/2020 tăng 0,12% so với tháng trước và tăng 0,01% so với tháng 12 năm trước - đều là mức thấp nhất trong giai đoạn 2016-2020[26], chủ yếu do giá dịch vụ giáo dục được điều chỉnh tăng theo lộ trình nhằm tiệm cận với giá thị trường, giá điện sinh hoạt tăng do nhu cầu sử dụng điện trong thời tiết nắng nóng; giá gạo trong nước tăng do giá gạo xuất khẩu của Việt Nam ở mức cao nhất kể từ năm 2011. Bình quân 9 tháng năm 2020, chỉ số giá tiêu dùng tăng 3,85% so với cùng kỳ năm trước. Tỷ giá thương mại hàng hóa bình quân 9 tháng giảm 0,72% so với cùng kỳ năm 2019 phản ánh giá xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam ra nước ngoài không thuận lợi so với giá nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài về Việt Nam. 

 

 
   a) Chỉ số giá tiêu dùng

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9/2020 tăng 0,12% so với tháng trước. Có 6/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chủ yếu có CPI tháng Chín tăng so với tháng trước, trong đó nhóm giáo dục tăng cao nhất với 2,08% (dịch vụ giáo dục tăng 2,29%) làm CPI chung tăng 0,12% do trong tháng có 44 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện lộ trình tăng học phí cho năm học mới 2020-2021 và giá các mặt hàng sách vở, đồ dùng học tập tăng[27]. Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,62%, chủ yếu do giá điện sinh hoạt tăng 3,23% (làm CPI chung tăng 0,11%) và giá gas tăng 0,52%. Nhóm may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,1% do nhu cầu sắm sửa quần áo và giày dép cho năm học mới; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,05%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,02%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ còn lại có chỉ số giá giảm: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,31%, trong đó lương thực tăng 0,53% do giá gạo tăng 0,71%; thực phẩm giảm 0,59%[28]. Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,2% do nhu cầu du lịch của người dân giảm khi dịch Covid-19 bùng phát trở lại[29]; nhóm giao thông giảm 0,12%[30]; nhóm thiết bị, đồ dùng gia đình giảm 0,06%; nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,02%.

Tính chung quý III/2020, CPI tăng 0,92% so với quý trước và tăng 3,18% so với cùng kỳ năm 2019, trong đó hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 11,47% so với cùng kỳ năm trước; giáo dục tăng 3,52%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,51%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,36%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,11%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,67%; may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,56%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,48%. Có 3 nhóm có chỉ số giá giảm so với cùng kỳ năm trước là giao thông giảm 13,39%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 1,65%; bưu chính viễn thông giảm 0,54%.

CPI tháng 9/2020 tăng 0,01% so với tháng 12/2019 và tăng 2,98% so với cùng kỳ năm 2019. CPI bình quân 9 tháng năm 2020 tăng 3,85% so với bình quân cùng kỳ năm 2019. CPI 9 tháng tăng so với cùng kỳ năm trước do một số nguyên nhân chủ yếu sau: (i) Giá các mặt hàng lương thực tăng 4,03% so với cùng kỳ năm trước (làm CPI chung tăng 0,15%); (ii) Giá các mặt hàng thực phẩm tăng 14,31% so với cùng kỳ năm trước (làm CPI chung tăng 3,05%), trong đó riêng giá thịt lợn tăng 70,55% (làm CPI chung tăng 2,39%); (iii) Giá thuốc và thiết bị y tế tăng 1,43% do dịch Covid-19 trên thế giới vẫn diễn biến phức tạp nên nhu cầu về mặt hàng này ở mức cao; (iv) Giá các mặt hàng đồ uống, thuốc lá và các loại quần áo may sẵn tăng cao, lần lượt tăng 1,58% và 0,73% so với cùng kỳ năm 2019.

Bên cạnh đó, có một số yếu tố góp phần kiềm chế tốc độ tăng CPI 9 tháng năm 2020: (i) Giá các mặt hàng thiết yếu như xăng, dầu giảm 22,12% (làm CPI chung giảm 0,8%); giá dầu hỏa giảm 30,1%; giá gas trong nước giảm 1,68%; (ii) Nhu cầu đi lại, du lịch của người dân giảm do ảnh hưởng của dịch Covid-19 làm giá của nhóm du lịch trọn gói giảm 2,13% so với cùng kỳ năm trước; giá cước vận tải của các loại phương tiện như tàu hỏa, máy bay giảm[31]; (iii) Chính phủ triển khai các gói hỗ trợ cho người dân và người sản xuất gặp khó khăn do dịch Covid-19 như gói hỗ trợ của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) triển khai giảm giá điện, tiền điện cho khách hàng nên giá điện tháng 5 và tháng 6 năm nay giảm lần lượt là 0,28% và 2,72% so với tháng trước; (iv) Các cấp, các ngành tích cực triển khai thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ để ngăn chặn diễn biến phức tạp của dịch bệnh Covid-19, bảo đảm cân đối cung cầu và ổn định thị trường.

Lạm phát cơ bản tháng 9/2020 giảm 0,02% so với tháng trước và tăng 1,97% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân 9 tháng năm 2020 tăng 2,59% so với bình quân cùng kỳ năm 2019.

b) Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ

Giá vàng trong nước biến động theo giá vàng thế giới. Giá vàng giảm do các nhà đầu tư bán ra chốt lời sau thời gian giá vàng tăng mạnh, nền kinh tế Mỹ phục hồi tốt hơn so với các dự đoán sau khi bị ảnh hưởng của dịch Covid-19 và chỉ số đồng USD tăng lên so với các đồng tiền chủ chốt trên thị trường thế giới. Bình quân giá vàng thế giới đến ngày 28/9/2020 giảm 2,55% so với tháng 8/2020. Trong nước, chỉ số giá vàng tháng 9/2020 giảm 0,33% so với tháng trước; tăng 32,37% so với tháng 12/2019 và tăng 30,33% so với cùng kỳ năm trước.

Cục dữ trữ liên bang Mỹ (FED) bất ngờ tuyên bố sẽ giữ lãi suất ở mức gần bằng 0% và giữ nguyên lãi suất này đến năm 2023 đồng thời dự báo nền kinh tế Mỹ sẽ phục hồi sau dịch Covid-19. Trong nước, lượng dự trữ ngoại tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam dồi dào đáp ứng nhu cầu về ngoại tệ của các doanh nghiệp nhập khẩu. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 9/2020 giảm 0,05% so với tháng trước; tăng 0,12% so với tháng 12/2019 và giảm 0,17% so với cùng kỳ năm 2019.

c) Chỉ số giá sản xuất

Chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản quý III/2020 tăng 1,43% so với quý trước và tăng 10,99% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông nghiệp tăng 2,46% và tăng 16,1%; lâm nghiệp tăng 0,03% và giảm 0,1%; thủy sản giảm 1,52% và giảm 2,19%. Tính chung 9 tháng năm 2020, chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 8,41% so với cùng kỳ năm 2019, trong đó chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông nghiệp tăng 12,06%; lâm nghiệp giảm 0,22%; thủy sản giảm 1,18%.

Chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp quý III/2020 tăng 0,81% so với quý trước và giảm 0,95% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá sản xuất sản phẩm khai khoáng tăng 9,14% và giảm 9,86%; sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,4% và giảm 0,36%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 1,95% và giảm 3,68%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,29% và tăng 2,68%. Tính chung 9 tháng năm 2020, chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp giảm 0,54% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá sản xuất sản phẩm khai khoáng giảm 8,21%; sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,2%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 1,1%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,73%.

Chỉ số giá sản xuất dịch vụ quý III/2020 tăng 1,12% so với quý trước và giảm 1,51% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá sản xuất dịch vụ của một số ngành như sau: Dịch vụ vận tải, kho bãi tăng 2,71% và giảm 6,08%; giáo dục và đào tạo tăng 0,83% và tăng 2,67%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 0,34% và tăng 0,41%; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 0,05% và tăng 0,77%. Tính chung 9 tháng năm 2020, chỉ số giá sản xuất dịch vụ giảm 0,58% so với cùng kỳ năm 2019, trong đó chỉ số giá sản xuất dịch vụ ngành vận tải, kho bãi giảm 5,28%; thông tin và truyền thông giảm 3,06%; giáo dục và đào tạo tăng 3,71%; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 2,63%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 1,08%.

d) Chỉ số giá xuất, nhập khẩu hàng hóa

Chỉ số giá xuất khẩu hàng hoá quý III/2020 tăng 0,17% so với quý trước và giảm 1,55% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá của nhóm nông sản, thực phẩm giảm 0,98% và giảm 4,1%; nhóm nhiên liệu tăng 9,13% và giảm 31,82%; nhóm hàng hóa chế biến, chế tạo khác ổn định so với quý trước và tăng 0,24% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá xuất khẩu quý III so với quý trước và so với cùng kỳ năm trước của một số mặt hàng như sau: Dầu thô tăng 10,37% và giảm 36,92%; xăng, dầu các loại tăng 8,32% và giảm 23,39%; chè tăng 6,3% và tăng 14,12%; gạo tăng 3,1% và tăng 6,22%; quặng và khoáng sản tăng 2,48% và tăng 2,44%; cao su giảm 3,26% và giảm 6,67%; sắt thép giảm 3,18% và giảm 8,03%; thủy sản giảm 2,47% và giảm 9,03%; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện giảm 2,06% và giảm 0,04%. Tính chung 9 tháng năm nay, chỉ số giá xuất khẩu hàng hoá giảm 1,33% so với cùng kỳ năm 2019, trong đó chỉ số giá của nhóm nông sản, thực phẩm giảm 2,93%; nhóm nhiên liệu giảm 27,43%; nhóm hàng hóa chế biến, chế tạo khác tăng 0,08%. Chỉ số giá xuất khẩu 9 tháng năm 2020 của một số mặt hàng: Dầu thô giảm 32,28%; xăng, dầu các loại giảm 19,27%; phân bón giảm 6,37%; thủy sản giảm 6,17%; cà phê giảm 5,98%; quặng và khoáng sản tăng 10,42%; chè tăng 9,73%;  đá quý và kim loại quý tăng 7,07%. 

Chỉ số giá nhập khẩu hàng hoá quý III/2020 tăng 0,03% so với quý trước và giảm 0,95% so với cùng kỳ năm 2019, trong đó chỉ số giá nhập khẩu của nhóm nông sản, thực phẩm giảm 0,12% và tăng 0,73%; nhóm nhiên liệu tăng 7,1% và giảm 3,31%; nhóm hàng hóa chế biến, chế tạo khác giảm 0,29% và giảm 0,93%. Chỉ số giá nhập khẩu quý III của một số mặt hàng như sau: Xăng dầu các loại tăng 9,83% so với quý trước và giảm 2,65% so với cùng kỳ năm trước; cao su tăng 2,03% và tăng 0,55%; dầu mỡ động thực vật tăng 1,59% và tăng 13,74%; khí đốt hóa lỏng giảm 3,61% và giảm 18,17%; linh kiện, phụ tùng ô tô giảm 2,57% và giảm 2,29%; thủy sản giảm 2,12% và giảm 2,55%. Tính chung 9 tháng, chỉ số giá nhập khẩu hàng hoá giảm 0,62% so với cùng kỳ năm 2019, trong đó chỉ số giá của nhóm nông sản, thực phẩm tăng 0,89%; nhóm nhiên liệu giảm 3,6%; nhóm hàng hóa chế biến, chế tạo khác giảm 0,55%. Chỉ số giá nhập khẩu 9 tháng của một số mặt hàng: Khí đốt hóa lỏng giảm 14,63%; hóa chất giảm 7,18%; xăng dầu các loại giảm 3,48%; sản phẩm từ giấy tăng 11,03%; dầu mỡ động thực vật tăng 7,78%; rau quả tăng 4,76%.

Tỷ giá thương mại hàng hóa[32] quý III/2020 tăng 0,14% so với quý trước và giảm 0,6% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng, tỷ giá thương mại hàng hoá giảm 0,72% so với cùng kỳ năm 2019, trong đó tỷ giá thương mại hàng hóa của mặt hàng hóa chất tăng 7,74%; gỗ và sản phẩm gỗ tăng 1,58%; cao su tăng 0,85%; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 0,83%; xăng dầu các loại giảm 16,35%; sắt, thép giảm 5,48%; thủy sản giảm 4,5%; rau quả giảm 2,02%.

III. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

1. Lao động, việc làm

Tình hình lao động, việc làm cả nước trong quý III/2020 có dấu hiệu phục hồi, thu nhập của người làm công hưởng lương dần được cải thiện. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động của khu vực thành thị quý III mặc dù giảm so với quý II nhưng so với cùng kỳ năm trước vẫn ở mức cao nhất trong 10 năm trở lại đây[33].

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước quý III/2020 ước tính là 54,6 triệu người, tăng 1,4 triệu người so với quý trước và giảm 1,1 triệu người so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2020, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên là 54,4 triệu người, giảm 1,2 triệu người so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động 9 tháng ước tính đạt 73,9%, giảm 2,6 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.

Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động quý III/2020 ước tính là 48,5 triệu người, tăng 1,8 triệu người so với quý trước và giảm 638,9 nghìn người so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Lao động nam 26,4 triệu người, chiếm 54,5% tổng số và lao động nữ 22,1 triệu người, chiếm 45,5%; khu vực thành thị 16,5 triệu người, chiếm 34,1% và khu vực nông thôn là 32 triệu người, chiếm 65,9%. Tính chung 9 tháng năm 2020, lực lượng lao động trong độ tuổi lao động là 48,1 triệu người, giảm 940,1 nghìn người so với cùng kỳ năm trước, tương đương 1,9%.

Lao động 15 tuổi trở lên có việc làm trong quý III/2020 ước tính là 53,3 triệu người, bao gồm 17,3 triệu người đang làm việc ở khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, chiếm 32,4% tổng số; khu vực công nghiệp và xây dựng 16,6 triệu người, chiếm 31,2%; khu vực dịch vụ 19,4 triệu người, chiếm 36,4%. Tính chung 9 tháng năm nay, lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc là 53,1 triệu người, bao gồm 17,5 triệu người đang làm việc ở khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, giảm 6,5% so với cùng kỳ năm trước; khu vực công nghiệp và xây dựng là 16,4 triệu người, tăng 0,3%, trong đó tăng chủ yếu đối với lao động phi chính thức ngành xây dựng (tăng 4,6%), còn lao động chính thức trong ngành xây dựng giảm 9,3%; khu vực dịch vụ là 19,2 triệu người, giảm 1%. Chuyển dịch lao động tiếp tục theo xu hướng từ khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản sang khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ với tỷ trọng lao động tương ứng trong các khu vực là: 33%; 30,8%; 36,2%.

Tỷ lệ thất nghiệp chung cả nước quý III/2020 ước tính là 2,29% (quý I là 2,02%; quý II là 2,51%). Tính chung 9 tháng năm 2020, tỷ lệ thất nghiệp chung là 2,27%, trong đó khu vực thành thị là 3,66%; khu vực nông thôn là 1,58%[34]. Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi quý III/2020 là 2,5% (quý I là 2,22%; quý II là 2,73%). Tính chung 9 tháng năm 2020, tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi là 2,48%, trong đó khu vực thành thị là 3,88%; khu vực nông thôn là 1,75%[35]. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (từ 15-24 tuổi) 9 tháng năm 2020 ước tính là 7,07%, trong đó khu vực thành thị là 10,7%; khu vực nông thôn là 5,53%.

Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi quý I/2020 là 2,21%; quý II là 3,08%; quý III ước tính là 2,79%. Tính chung 9 tháng năm nay, tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi ước tính là 2,69%, trong đó tỷ lệ thiếu việc làm khu vực thành thị là 1,84%; tỷ lệ thiếu việc làm khu vực nông thôn là 3,12% (tỷ lệ thiếu việc làm của 9 tháng năm 2019 tương ứng là 1,54%; 0,81%; 1,91%).

Tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức ngoài hộ nông, lâm nghiệp, thủy sản[36] quý I/2020 là 55,3%; quý II là 55,8%; quý III ước tính là 57%, trong đó khu vực thành thị là 49,5%; khu vực nông thôn là 62,9%. Tính chung 9 tháng năm 2020 tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức ngoài hộ nông, lâm nghiệp, thủy sản ước tính là 56%, trong đó khu vực thành thị là 48,1%; khu vực nông thôn là 62,4% (9 tháng năm 2019 tương ứng là 55,9%; 47,8%; 62,3%).

Thu nhập bình quân tháng của lao động làm công hưởng lương quý III/2020 là 6,52 triệu đồng/tháng, tăng 184 nghìn đồng so với quý trước và giảm 116 nghìn đồng so với cùng kỳ năm trước, trong đó thu nhập của lao động nam là 6,8 triệu đồng/tháng, lao động nữ là 6,1 triệu đồng/tháng. Tính chung 9 tháng năm 2020, thu nhập bình quân tháng của lao động làm công hưởng lương ước tính là 6,69 triệu đồng/tháng, không thay đổi nhiều so với cùng kỳ năm trước.  

 

2. Đời sống dân cư và công tác an sinh xã hội

Đời sống dân cư trong 9 tháng năm 2020 tuy chịu nhiều ảnh hưởng tiêu cực từ dịch Covid-19 nhưng nhờ sự chỉ đạo quyết liệt của các cấp, các ngành và sự nỗ lực của nhân dân nên nhìn chung đời sống dân cư cả nước vẫn giữ được ổn định. Trong tháng Chín và quý III năm nay không có địa phương nào phát sinh thiếu đói. Tính chung 9 tháng năm 2020, cả nước16,5 nghìn lượt hộ thiếu đói, tương ứng với 66,5 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, giảm 75,5% về số lượt hộ thiếu đói và giảm 75,6% về số lượt nhân khẩu thiếu đói so với cùng kỳ năm trước. Thiếu đói xảy ra chủ yếu ở các tỉnh vùng Trung du và miền núi phía Bắc như: Yên Bái, Hà Giang, Bắc Kạn, Sơn La, Cao Bằng, Điện Biên, Lào Cai. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm, các cấp, các ngành, các tổ chức từ Trung ương đến địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 733,6 tấn gạo.

Chương trình xây dựng nông thôn mới trong những năm qua đã có tác động tích cực, góp phần nâng cao đời sống nhân dân và đẩy mạnh phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội khu vực nông thôn. Hệ thống cơ sở vật chất văn hóa, trường học được đầu tư xây dựng mới, cải tạo đạt chuẩn, các chương trình hỗ trợ giống cây trồng cho sản xuất nông nghiệp, chính sách cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo, cận nghèo đã giúp người nông dân phát triển sản xuất, cải thiện đời sống. Tính đến ngày 23/9/2020, cả nước có 5.385 xã và 152 huyện được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới.

Công tác an sinh xã hội được quan tâm thực hiện. Theo báo cáo sơ bộ, tổng các suất quà trao tặng cho các đối tượng chính sách, người có công, các đối tượng bảo trợ xã hội trong 9 tháng năm 2020 hơn 9,4 nghìn tỷ đồng, bao gồm hơn 3,5 nghìn tỷ đồng quà thăm hỏi và hỗ trợ các đối tượng chính sách; 2,7 nghìn tỷ đồng hỗ trợ các hộ nghèo, hộ cận nghèo3,2 nghìn tỷ đồng cứu đói, cứu trợ xã hội khác. Bên cạnh đó, có hơn 24 triệu thẻ bảo hiểm y tế, sổ/thẻ khám chữa bệnh miễn phí được phát tặng cho các đối tượng chính sách trên địa bàn cả nước. Tính đến ngày 15/9/2020, cả nước giải ngân được hơn 12,5 nghìn tỷ đồng để hỗ trợ người dân gặp khó khăn do dịch Covid-19.

3. Giáo dục, đào tạo

Năm học 2019-2020 là năm nhiều biến động với ngành Giáo dục bởi dịch bệnh Covid-19. Để thích ứng với tình hình thực tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã kịp thời đưa ra các phương án ứng phó; những chỉ đạo, hướng dẫn phù hợp để vừa đảm bảo an toàn cho học sinh, giáo viên, vừa thực hiện kế hoạch năm học. Do ảnh hưởng của dịch Covid-19 kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông quốc gia năm 2020 tổ chức muộn hơn so với mọi năm và phải đảm bảo hai nguyên tắc: an toàn sức khỏe cho tất cả thí sinh, cán bộ, giáo viên tham gia kỳ thi, phụ huynh học sinh; an toàn, an ninh, nghiêm túc, khách quan, đúng quy chế thi. Kỳ thi được tổ chức thành 2 đợt để đảm bảo an toàn cho các thí sinh tham gia kỳ thi. Số thí sinh đăng ký dự thi là 900,1 nghìn người, trong đó có 26.014 thí sinh của 27 địa phương tham dự kỳ thi vào đợt 2.

Tại thời điểm khai giảng năm học 2020-2021, cả nước có 5,4 triệu trẻ em đi học mầm non (776,9 nghìn trẻ em đi nhà trẻ và hơn 4,6 triệu trẻ em đi học mẫu giáo); hơn 17,5 triệu học sinh phổ thông đến trường, bao gồm 8,7 triệu học sinh tiểu học; hơn 6 triệu học sinh trung học cơ sở và 2,8 triệu học sinh trung học phổ thông.

Tính chung 9 tháng, đào tạo nghề đã tuyển mới được gần 1,4 triệu người, trong đó trình độ cao đẳng, trung cấp tuyển sinh được 300 nghìn người; trình độ sơ cấp và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác tuyển sinh được 1.065 nghìn người.

4. Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm

Trong tháng (19/8-18/9/2020), cả nước có 16.562 trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (4 trường hợp tử vong); 6.600 trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; 29 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do vi rút; 2 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu; 126 trường hợp sốt phát ban nghi sởi, trong đó có 6 trường hợp dương tính. So với cùng kỳ năm trước số trường hợp mắc sốt xuất huyết giảm 61,9%; số trường hợp mắc bệnh tay chân miệng giảm 59,3%. Tính chung 9 tháng, cả nước có 65.046 trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (7 trường hợp tử vong); 28.462 trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; 404 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do vi rút (9 trường hợp tử vong); 11 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu và 2.924 trường hợp sốt phát ban nghi sởi, trong đó có 247 trường hợp dương tính; 198 trường hợp dương tính với bạch hầu (4 trường hợp tử vong).

Dịch Covid-19 trên thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp[37], 5 quốc gia có số ca mắc Covid-19 nhiều nhất thế giới là Mỹ, Ấn Độ, Bra-xin, Nga, Cô-lôm-bi-a. Tại Việt Nam, cơ bản các ổ dịch đã được kiểm soát, các địa phương có ca nhiễm Covid-19 cũng đã cơ bản trở lại trạng thái bình thường. Tính đến 6h00 ngày 28/9/2020, Việt Nam có 1.074 trường hợp mắc, 999 trường hợp đã được chữa khỏi (35 trường hợp tử vong), là ngày thứ 26 liên tiếp Việt Nam không ghi nhận ca mắc Covid-19 mới trong cộng đồng. Đa phần các trường hợp tử vong ở nước ta đều là người cao tuổi, trên nền bệnh lý nặng như suy thận mạn giai đoạn cuối, ung thư máu giai đoạn cuối không đáp ứng hoá chất, hội chứng mạch vành, suy hô hấp cấp, thoái hoá đa khớp, tăng huyết áp, suy thượng thận mạn, đái tháo đường tuýp 2, nhiễm trùng huyết, viêm phổi, suy kiệt, suy đa tạng.

Tổng số người nhiễm HIV của cả nước hiện còn sống tính đến thời điểm 18/9/2020 là 210.754 người; số người đã chuyển sang giai đoạn AIDS là 97.066 người và số người tử vong do HIV/AIDS của cả nước tính đến thời điểm trên là 99.019 người.

Về ngộ độc thực phẩm, trong tháng Chín xảy ra 8 vụ với 93 người bị ngộ độc (2 người tử vong). Tính chung 9 tháng năm 2020, cả nước xảy ra 65 vụ với 1.667 người bị ngộ độc (21 người tử vong).

5. Hoạt động văn hóa, thể thao

Công tác bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa được các địa phương rất quan tâm và thực hiện, nhiều di tích văn hóa lịch sử được đầu tư tu bổ, tôn tạo gắn với khai thác, phát triển du lịch. Tiếp tục hoàn thiện và xây dựng các đề án nhằm bảo tồn phát huy văn hóa truyền thống, xây dựng văn hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Hoạt động thư viện có nhiều đổi mới, tích cực, chủ động, sáng tạo, triển khai các dịch vụ mới, đẩy mạnh việc cung cấp các dịch vụ từ xa, dịch vụ trực tuyến nhằm đảm bảo duy trì việc cung cấp thông tin cho người dân, đặc biệt do ảnh hưởng của dịch Covid-19, các thư viện chủ yếu cung ứng các dịch vụ thông qua không gian mạng với nhiều cách làm sáng tạo nhằm thu hút độc giả sử dụng các dịch vụ của thư viện.

Công tác chuẩn bị cho 2 Đại hội thể thao lớn là Đại hội Thể thao Đông Nam Á lần thứ 31 (SEA Games 31) và Đại hội Thể thao Người khuyết tật lần thứ 11 (ASEAN Para Games 11) sẽ diễn ra tại Việt Nam năm 2021 đang tích cực được triển khai trên tinh thần quyết liệt, khẩn trương để mọi khâu tổ chức đảm bảo hoàn thành đúng hạn.

Do ảnh hưởng của dịch Covid-19 nhiều hoạt động thể dục thể thao quần chúng phải hoãn và lùi thời gian tổ chức. Tính chung 9 tháng trong nước đã tổ chức được 11 giải thể thao và 10 lớp tập huấn chuyên môn nghiệp vụ cho cộng tác viên, hướng dẫn viên thể dục thể thao. Các giải, hội thi thể thao triển khai đều được đảm bảo các biện pháp an toàn về công tác phòng, chống dịch Covid-19.

6. Tai nạn giao thông

Trong tháng (từ 15/8 đến 14/9), trên địa bàn cả nước xảy ra 1.184 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 708 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 476 vụ va chạm giao thông, làm 534 người chết, 377 người bị thương và 505 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông tháng Chín giảm 11,9% (số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên tăng 1,4% và số vụ va chạm giao thông giảm 26,3%); số người chết giảm 5,2%; số người bị thương giảm 3,6% và số người bị thương nhẹ giảm 21,2%.

Tình hình tai nạn giao thông trong 9 tháng giảm trên cả 3 tiêu chí do hiệu quả của Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt và ảnh hưởng của giãn cách xã hội do dịch Covid-19. Trong 9 tháng, trên địa bàn cả nước xảy ra 10.354 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 5.980 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 4.374 vụ va chạm giao thông, làm 4.876 người chết, 3.127 người bị thương và 4.482 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông trong 9 tháng giảm 18,3% (số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 11%; số vụ va chạm giao thông giảm 26,6%); số người chết giảm 13,8%; số người bị thương giảm 13,9% và số người bị thương nhẹ giảm 25,1%. Bình quân 1 ngày trong 9 tháng, trên địa bàn cả nước xảy ra 38 vụ tai nạn giao thông, gồm 22 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 16 vụ va chạm giao thông, làm 18 người chết, 11 người bị thương và 16 người bị thương nhẹ.

7. Thiệt hại do thiên tai 

Thiệt hại do thiên tai trong tháng Chín (từ ngày 18/8 đến 17/9) chủ yếu do ảnh hưởng của bão, lũ, mưa lớn, lốc xoáy, sét đánh và sạt lở làm 17 người chết và mất tích; 117 người bị thương; 4,4 nghìn ha lúa và 3,7 nghìn ha hoa màu bị hư hỏng; 48 ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi và hơn 24,1 nghìn ngôi nhà bị hư hại. Theo báo cáo sơ bộ từ các địa phương, tổng giá trị thiệt hại về tài sản do thiên tai gây ra trong tháng là 203,7 tỷ đồng. Riêng bão số 5 xảy ra ngày 18/9 tại một số tỉnh miền Trung làm 6 người chết; 112 người bị thương; 1.439 ha lúa bị ngập và 2.449 ha hoa màu bị hư hỏng; 2.648 ha cây lâm nghiệp và cây ăn quả bị thiệt hại; 105 ha mặt nước nuôi trồng thủy sản bị thiệt hại; 13 ngôi nhà bị sập đổ hoàn toàn và 22,7 nghìn nhà bị tốc mái, hư hỏng; 36 điểm trường học bị ảnh hưởng; 217 cột điện, 7 trạm biến áp, 3 trụ thông tin và 43 tuyến cáp quang bị hư hỏng; hơn 57 km kênh mương, bờ biển và đường quốc lộ bị hư hỏng. Thiệt hại về tài sản do bão số 5 gây ra chủ yếu tại 2 tỉnh Thừa Thiên-Huế và Quảng Nam ước tính là 621,6 tỷ đồng. Tính chung 9 tháng, thiên tai làm 96 người chết và mất tích; 292 người bị thương; hơn 142,6 nghìn ha lúa và hơn 67,8 nghìn ha hoa màu bị hư hỏng; 849 con gia súc và 65,9 nghìn con gia cầm bị chết; 1.806 ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi; gần 101,2 nghìn ngôi nhà bị hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại về tài sản do thiên tai gây ra trong 9 tháng ước tính gần 7,2 nghìn tỷ đồng, (trong đó do xâm nhập mặn là 3,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 47% tổng giá trị thiệt hại).

8. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổ

Trong tháng Chín, cơ quan chức năng đã phát hiện 1.387 vụ vi phạm môi trường, trong đó xử lý 1.176 vụ với tổng số tiền phạt là 13,9 tỷ đồng. Tính chung 9 tháng đã phát hiện 10.715 vụ vi phạm môi trường trên địa bàn cả nước, trong đó xử lý 9.658 vụ với tổng số tiền phạt 143,6 tỷ đồng.

Trong tháng (từ ngày 15/8 đến ngày 14/9), trên địa bàn cả nước xảy ra 190 vụ cháy, nổ, làm 5 người chết và 8 người bị thương, tài sản thiệt hại ước tính 23,9 tỷ đồng. Tính chung 9 tháng (từ ngày 15/12/2019 đến ngày 14/9/2020), cả nước xảy ra 2.254 vụ cháy, nổ, làm 79 người chết và 131 người bị thương, tài sản thiệt hại ước tính là 416,2 tỷ đồng.

Khái quát lại, trong bối cảnh dịch Covid-19 đã gây ra một cú sốc lớn làm kinh tế thế giới và thương mại toàn cầu suy thoái sâu và nghiêm trọng, bức tranh kinh tế - xã hội Việt Nam 9 tháng năm 2020 tiếp tục duy trì được ổn định là nhờ sự chỉ đạo, điều hành kịp thời, quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và nỗ lực của các cấp, các ngành, địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân cả nước. Sau khi các biện pháp giãn cách xã hội được nới lỏng, cùng với tác động tích cực từ những chính sách hỗ trợ doanh nghiệp và người dân của Chính phủ, các lĩnh vực kinh tế - xã hội đang bước vào trạng thái hoạt động trong điều kiện bình thường mới, nhiều ngành sản xuất kinh doanh có sự khởi sắc. Kinh tế 9 tháng năm nay đạt mức tăng trưởng 2,12%, thấp nhất giai đoạn 2011-2020 nhưng trong bối cảnh hiện nay, đây là mức tăng trưởng khá so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chịu ảnh hưởng tiêu cực của biến đổi khí hậu, hạn hán, xâm nhập mặn và dịch bệnh nhưng đã có những giải pháp ứng phó kịp thời, trở thành bệ đỡ của nền kinh tế trong lúc khó khăn, bảo đảm nguồn cung lương thực, thực phẩm. Công nghiệp chế biến, chế tạo tuy không tăng cao nhưng tiếp tục giữ vai trò là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế 9 tháng. Cung cầu hàng hóa trong nước được bảo đảm, hoạt động mua sắm hàng hóa, tiêu dùng của người dân tăng trở lại. Cán cân thương mại hàng hóa đạt mức xuất siêu cao. Tiến độ giải ngân vốn đầu tư công được cải thiện rõ rệt. Tuy nhiên, kinh tế - xã hội Việt Nam sẽ tiếp tục đối mặt với nhiều thách thức, nhất là nền kinh tế nước ta có độ mở lớn nên chịu tác động đan xen nhiều mặt bởi tình hình kinh tế quốc tế ngày càng phức tạp, khó lường. Dịch Covid-19 tuy đã cơ bản được khống chế ở Việt Nam nhưng còn diễn biến phức tạp trên thế giới làm gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu, ảnh hưởng tới các ngành thương mại, du lịch, vận tải và xuất nhập khẩu, doanh nghiệp rơi vào tình trạng thiếu nguyên liệu sản xuất, thu hẹp quy mô và tạm dừng hoạt động. Thu nhập, lao động, việc làm bị ảnh hưởng, tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm ở mức cao sẽ ảnh hưởng đến an sinh xã hội. Do đó cần có sự chung sức, đồng lòng của Chính phủ, doanh nghiệp và người dân, sự hỗ trợ và chia sẻ gánh vác trách nhiệm giữa các thực thể trong nước trong giai đoạn khó khăn này. Trước mắt, cần tiếp tục thực hiện quyết liệt các giải pháp phòng, chống dịch Covid-19, không để dịch lây lan, bảo đảm an toàn sức khỏe cho người dân. Đồng thời, tập trung vào một số nội dung chủ yếu sau:

Một là, tiếp tục đưa ra gói hỗ trợ đủ lớn và hiệu quả để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, phục hồi kinh tế, trong đó tập trung vào đối tượng doanh nghiệp, cải cách quy trình, thủ tục để doanh nghiệp tiếp cận các chính sách hỗ trợ đơn giản, thuận tiện, kịp thời. Hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp trong việc tìm thị trường nhập khẩu nguyên, nhiên, vật liệu, phụ tùng, linh kiện thay thế, tháo gỡ khó khăn, duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh. Đồng thời, vận động người dân ưu tiên dùng hàng trong nước, ủng hộ doanh nghiệp sản xuất, tiêu thụ sản phẩm trong giai đoạn khó khăn.

Hai là, đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, phấn đấu đạt tỷ lệ giải ngân cao nhất có thể so với kế hoạch đề ra thông qua việc tháo gỡ khó khăn cho các dự án chậm giải ngân, đặc biệt là các dự án trọng điểm, quy mô lớn, có sức lan tỏa nhằm thực hiện đột phá chiến lược về kết cấu hạ tầng, chuyển đổi hình thức đầu tư một số dự án cấp bách để triển khai ngay trong năm, nâng cao năng lực sản xuất và tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế.

Ba là, để hạn chế tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu tới kết quả sản xuất nông nghiệp cần điều chỉnh phương án sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp từng vùng, miền hoặc chuyển dịch mùa vụ sản xuất trên cơ sở tận dụng các lợi thế của địa phương, dự đoán nhu cầu thị trường và khả năng tiêu thụ sản phẩm. Đặc biệt, cần kịp thời đưa ra các giải pháp để giữ được các thị trường tiêu thụ nông sản, giữ vững thương hiệu để duy trì hoạt động sản xuất trong bối cảnh dịch Covid-19 làm giảm nhu cầu tiêu dùng trong và ngoài nước. Khuyến khích các doanh nghiệp và hộ chăn nuôi lợn đẩy nhanh tiến độ và quy mô tái đàn. Hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất, chế biến cá tra đẩy mạnh tiêu thụ trên thị trường nội địa.

Bốn là, kích cầu đầu tư trong khối doanh nghiệp sản xuất cho xuất khẩu để chủ động nguồn hàng khi thị trường các nước trên thế giới mở lại bình thường và tận dụng cơ hội từ Hiệp định Thương mại tự do châu Âu - Việt Nam. Cần có chính sách khuyến khích và hạn chế nhập khẩu phù hợp với tình hình sản xuất, cung cầu trong nước như khuyến khích nhập khẩu máy móc thiết bị mở rộng sản xuất, hạn chế nhập khẩu các mặt hàng, nhóm hàng hóa trong nước có đủ năng lực sản xuất. Chính phủ và doanh nghiệp nghiên cứu các giải pháp về thể chế, nguồn nhân lực, quy trình, công nghệ sản xuất và chiến lược kinh doanh để tận dụng và hòa nhập được các quy định Hiệp định Thương mại tự do và Hiệp định Bảo hộ đầu tư giữa Việt Nam và EU (EVFTA và IPA).

Năm là, điều hành chính sách tiền tệ, lãi suất, tỷ giá linh hoạt, thận trọng, phù hợp với diễn biến thị trường trong nước và quốc tế, phối hợp hài hòa với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát, hỗ trợ sản xuất kinh doanh và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tăng trưởng tín dụng đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất kinh doanh. Các bộ, ngành, địa phương theo dõi sát tình hình giá cả, thị trường trong nước và thế giới, diễn biến cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung, biến động của đồng đô la Mỹ, đồng Nhân dân tệ và giá cả các mặt hàng để kịp thời xử lý các vấn đề phát sinh, thực hiện lộ trình điều chỉnh giá các mặt hàng do Nhà nước quản lý vào thời điểm thích hợp, bảo đảm mục tiêu kiểm soát lạm phát năm 2020 dưới 4%.

Sáu là, theo dõi chặt chẽ tình hình thời tiết, chủ động phương án phòng chống thiên tai, cảnh báo mưa lũ, sạt lở, tác động của hạn hán, xâm nhập mặn nhằm hạn chế tối đa thiệt hại tới sản xuất và cuộc sống của người dân. Thực hiện có hiệu quả các chính sách an sinh xã hội, lao động, việc làm. Thực hiện tốt công tác trợ giúp đột xuất, bảo đảm người dân khi gặp rủi ro, thiên tai được hỗ trợ kịp thời, khắc phục khó khăn, ổn định cuộc sống. Tăng cường công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông, bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổ./.

TỔNG CỤC THỐNG KÊ

 

 


[1] Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) dự báo tăng trưởng toàn cầu năm 2020 giảm 4,5%, điều chỉnh tăng 1,5 điểm phần trăm so với dự báo đưa ra vào tháng 6/2020. Tương tự, tổ chức xếp hạng tín dụng quốc tế Fitch Ratings tổ chức Oxford Economics điều chỉnh dự báo tăng trưởng GDP toàn cầu năm 2020 ở mức giảm 4,4%, tăng 0,2 điểm phần trăm; Ngân hàng Scotiabank dự báo tăng trưởng toàn cầu năm 2020 giảm 3,9%.

[2] Trong báo cáo ngày 17/9/2020, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) ước tính chỉ số Thước đo thương mại dịch vụ ở mức 95,6 (giá trị cơ sở 100) nhưng đã có những dấu hiệu phục hồi trong các ngành dịch vụ chính. Các chỉ số đại diện cho vận chuyển container (92,4), xây dựng (97,3) và Chỉ số nhà quản trị mua hàng-PMI (97,0) cũng có dấu hiệu phục hồi.

[3] Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) dự báo tăng trưởng năm 2020 của Mỹ âm 5,3%; Nhật Bản âm 5,4%; khu vực đồng Euro âm 8% và giữ nguyên mức dự báo tăng trưởng 1,8% cho năm 2020 của Trung Quốc và điều chỉnh tăng 0,3 điểm phần trăm cho dự báo tăng trưởng năm 2021 lên 7,7%. 

[4] Tốc độ tăng GDP quý III các năm 2011-2020 lần lượt là: 6,21%; 5,39%; 5,54%; 6,07%; 6,87%; 6,56%; 7,38%; 6,82%; 7,48%; 2,62%.

[5] Tốc độ tăng GDP 9 tháng so với cùng kỳ các năm 2011-2020 lần lượt là: 6,03%; 5,10%; 5,14%; 5,53%; 6,53%; 5,99%; 6,41%; 6,96%; 7,04%; 2,12%.

[6] Tốc độ tăng giá trị tăng thêm ngành nông nghiệp 9 tháng so với cùng kỳ các năm 2011-2020 lần lượt là: 4,03%; 2,28%; 2,11%; 2,01%; 1,78%; 0,02%; 2,08%; 2,85%; 0,91%; 1,65%.

[7] Tốc độ tăng giá trị tăng thêm ngành thủy sản 9 tháng so với cùng kỳ các năm 2011-2020 lần lượt là: 3,46%; 4,06%; 2,95%; 6,15%; 2,11%; 1,81%; 5,48%; 6,37%; 6,24%; 2,44%.

[8] Tốc độ tăng giá trị tăng thêm ngành công nghiệp 9 tháng so với cùng kỳ các năm 2011-2020 lần lượt là: 9,54%; 8,50%; 4,80%; 5,58%; 9,86%; 7,40%; 6,95%; 8,99%; 9,61%; 2,69%.

[9] Tốc độ tăng giá trị tăng thêm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 9 tháng so với cùng kỳ các năm 2011-2020 lần lượt là: 13,48%; 8,74%; 6,58%; 7,09%; 10,15%; 11,20%; 12,77%; 12,95%; 11,48%; 4,60%.

[10] Tốc độ tăng/giảm giá trị tăng thêm ngành xây dựng 9 tháng so với cùng kỳ các năm 2011-2020 lần lượt là:
- 0,01%; 2,78%; 5,31%; 6,61%; 9,0%; 9,10%; 8,30%; 8,76%; 8,33%; 5,02%.

[11] Tốc độ tăng giá trị tăng thêm khu vực dịch vụ 9 tháng so với cùng kỳ các năm 2011-2020 lần lượt là: 7,09%; 6,47%; 6,43%; 5,94%; 6,10%; 6,67%; 7,21%; 6,75%; 6,92%; 1,37%.

[12] Hà Nội, Nam Định, Ninh Bình, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Lào Cai, Lạng Sơn, Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, Nghệ An, Quảng Trị, Quảng Nam, Đắk Lắk,  Đắk Nông, Bình Phước, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Tiền Giang, Trà Vinh, Đồng Tháp, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau.

[13] Nguồn: Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

[14] So với cùng kỳ năm trước, số doanh nghiệp giảm 12,6%; số vốn đăng ký tăng 45%; lao động giảm 15%.

[15] Chỉ số tương ứng của quý II/2020: Có 27,3% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh tốt hơn quý trước; 40,8% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn và 31,9% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định.            

[16] Chỉ số tương ứng của quý II/2020: Có 29,7% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất của doanh nghiệp tăng so với quý trước; 39,6% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất giảm và 30,7% số doanh nghiệp cho rằng ổn định. 

[17] Chỉ số tương ứng của quý II/2020: Có 24,7% số doanh nghiệp có đơn đặt hàng tăng so với quý trước; 39% số doanh nghiệp có đơn đăt hàng giảm và 36,3% số doanh nghiệp có đơn đặt hàng ổn định.

[18] Khách quốc tế đến Việt Nam quý I/2020 đạt 3.686,8 nghìn lượt người; quý II/2020 đạt 57,7 nghìn lượt người.

[19] Chủ yếu là các chuyên gia Trung Quốc, Hàn Quốc làm việc tại các dự án; lái xe vận chuyển hàng hóa tại các cửa khẩu đường bộ; lưu học sinh Lào, Cam-pu-chia quay trở lại Việt Nam học tập.

[20] Tốc độ tăng vốn thực hiện từ nguồn NSNN tháng Chín so với cùng kỳ năm trước các năm 2016-2020: Năm 2016 tăng 15,7%; năm 2017 tăng 8,1%; năm 2018 tăng 17,1%; năm 2019 tăng 11,4%; năm 2020 tăng 48%. Tốc độ tăng vốn thực hiện từ nguồn NSNN 9 tháng so với cùng kỳ năm trước các năm 2016-2020: Năm 2016 tăng 13,1%; năm 2017 tăng 6,6%; năm 2018 tăng 11,4%; năm 2019 tăng 6,3%; năm 2020 tăng 33,3%.

[21] Ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí có 4 dự án điều chỉnh vốn làm giảm 118,8 triệu USD.

[22] Số liệu tháng 9/2020 do Tổ liên ngành gồm Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Tổng cục Hải quan và Tổng cục Thống kê họp ước tính căn cứ trên số liệu kim ngạch xuất, nhập khẩu tính đến ngày 27/9/2020 của Tổng cục Hải quan kết hợp với thông tin thị trường, tỷ trọng và xu hướng xuất, nhập khẩu các mặt hàng. Tổng cục Thống kê nhận được và cập nhật báo cáo vào chiều ngày 28/9/2020.

[23] Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa 9 tháng năm 2019 đạt 382 tỷ USD, tăng 8,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu đạt 194,6 tỷ USD, tăng 8,4%; nhập khẩu đạt 187,4 tỷ USD, tăng 8,3%.

[24] Ước tính tháng Tám xuất siêu 3,5 tỷ USD.

[25] Trong đó, 9 tháng năm 2020 xuất siêu sang EU đạt 15,2 tỷ USD, giảm 7,6% so với cùng kỳ năm trước; nhập siêu từ Trung Quốc 24,9 tỷ USD, giảm 7,8%; nhập siêu từ Hàn Quốc 18,3 tỷ USD, giảm 10,7%; nhập siêu từ ASEAN 4,8 tỷ USD, tăng 7,8%.

[26] Tốc độ tăng CPI tháng Chín so với tháng trước của các năm giai đoạn 2016-2020 lần lượt là: tăng 0,54%; tăng 0,59%; tăng 0,59%; tăng 0,32%; tăng 0,12%. Tốc độ tăng CPI tháng Chín so với tháng 12 năm trước của các năm giai đoạn 2016-2020 lần lượt là: tăng 3,14%; tăng 1,83%; tăng 3,2%; tăng 2,2%; tăng 0,01%.

[27] Giá sách giáo khoa tăng 0,57%; giá văn phòng phẩm và đồ dùng học tập khác tăng 0,28%; giá bút các loại tăng 0,52%.

[28] Chủ yếu do giá thịt lợn giảm 3,51%; giá các sản phẩm chế biến từ thịt lợn giảm (giá thịt quay, giò chả giảm 0,95%; giá thịt hộp, chế biến khác giảm từ 0,04%-0,24%); giá thịt gà giảm 1%, giá thịt gia cầm khác giảm 0,68%; giá thủy sản tươi sống giảm 0,36%.

[29] Giá dịch vụ du lịch trọn gói giảm 0,37%; giá khách sạn, nhà khách giảm 0,07%.

[30] Chủ yếu do ảnh hưởng từ 3 đợt điều chỉnh giảm giá xăng, dầu vào thời điểm 27/8/2020, thời điểm 11/9/2020 và thời điểm 26/9/2020 làm chỉ số giá xăng, dầu giảm 0,05%. Ngoài ra còn do giá vé tàu hỏa giảm 1,26% và giá ô tô giảm 0,29%.

[31] Giá vé máy bay giảm 33,68%; giá vé tàu hỏa giảm 1,57%.

[32] Chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa so với chỉ số giá nhập khẩu hàng hóa.

[33] Tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động trong độ tuổi khu vực thành thị quý III các năm 2011-2020 lần lượt là: 3,43%; 3,31%, 3,59%; 3,27%; 3,38%; 3,23%; 3,14%; 3,09%; 3,11%; 4,0%.

[34] Tỷ lệ thất nghiệp chung 9 tháng năm 2019 là 1,99%, trong đó khu vực thành thị là 2,94%; nông thôn là 1,53%.

[35] Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi 9 tháng năm 2019 là 2,17%, trong đó khu vực thành thị là 3,10%; khu vực nông thôn là 1,69%.

[36] Lao động có việc làm phi chính thức phi nông nghiệp bao gồm những người không làm việc trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản và thuộc một trong ba nhóm sau: (i) người làm công ăn lương thuộc khu vực chính thức không được ký hợp đồng lao động hoặc có hợp đồng có thời hạn nhưng không được cơ sở tuyển dụng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc; lao động gia đình tại cơ sở thuộc khu vực chính thức và thành viên hợp tác xã không có bảo hiểm xã hội bắt buộc; (ii) chủ cơ sở, lao động tự làm, lao động làm công ăn lương và lao động gia đình tại cơ sở thuộc khu vực phi chính thức; (iii) lao động tự làm phục vụ nhu cầu tự tiêu dùng của hộ gia đình và lao động làm thuê trong các hộ gia đình.

[37] Tính đến 6h00 ngày 28/9/2020, trên thế giới có 33.290,4 nghìn trường hợp mắc Covid-19 (gần 1002 nghìn trường hợp tử vong).

 
CÁC THÔNG TIN KHÁC
  Tình hình kinh tế - xã hội tháng 8 và 8 tháng năm 2020
  Tình hình kinh tế - xã hội 7 tháng đầu năm 2020
  Báo cáo tình hình kinh tế xã hội Quý II và 6 tháng đầu năm 2020
  Tình hình kinh tế - xã hội 5 tháng đầu năm 2020
  Tình hình kinh tế - xã hội 4 tháng đầu năm 2020